ĐẠI TƯỚNG ĐOÀN KHUÊ
"Người cộng sản kiên trung từ nhà tù thực dân đến cương vị Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam" Trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tướng Đoàn Khuê là một trong những vị tướng trưởng thành từ thực tiễn chiến đấu, trải qua gần như toàn bộ những giai đoạn cam go nhất của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX. Từ một thanh niên yêu nước bị thực dân Pháp bắt giam khi mới 17 tuổi, ông đã trở thành Đại tướng, Tổng Tham mưu trưởng rồi Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
"Người cộng sản kiên trung từ nhà tù thực dân đến cương vị Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam"
Trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tướng Đoàn Khuê là một trong những vị tướng trưởng thành từ thực tiễn chiến đấu, trải qua gần như toàn bộ những giai đoạn cam go nhất của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX. Từ một thanh niên yêu nước bị thực dân Pháp bắt giam khi mới 17 tuổi, ông đã trở thành Đại tướng, Tổng Tham mưu trưởng rồi Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Đại tướng Đoàn Khuê, bí danh Võ Tiến Trình, sinh ngày 29/10/1923 tại thôn Gia Đẳng, xã Triệu Tân, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị (nay thuộc xã Triệu Lăng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị). Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước và cách mạng đặc biệt.
Cha ông là cụ Đoàn Cầu, một trong những đảng viên cộng sản đầu tiên của địa phương. Mẹ ông là cụ Nguyễn Thị Dương, người sau này được Nhà nước truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Gia đình có tám người con thì có tới năm người là liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc. Đây là một trong những gia đình có sự cống hiến đặc biệt lớn cho cách mạng Việt Nam.
Từ khi còn rất trẻ, Đoàn Khuê đã tham gia hoạt động cách mạng và trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Năm 1940, khi mới 17 tuổi, ông bị thực dân Pháp bắt giữ và đày lên nhà tù Buôn Ma Thuột. Những năm tháng tù đày không làm lung lay ý chí của người thanh niên Quảng Trị mà càng hun đúc thêm tinh thần cách mạng.
Sau khi được trả tự do, tháng 6 năm 1945 ông tham gia thành lập Tỉnh ủy lâm thời Quảng Bình, giữ chức Chủ nhiệm Việt Minh và Ủy viên Quân sự tỉnh. Tháng 9 cùng năm, ông chính thức nhập ngũ và bắt đầu cuộc đời binh nghiệp kéo dài hơn nửa thế kỷ.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đoàn Khuê lần lượt giữ nhiều chức vụ quan trọng như Chính trị viên Trường Lục quân Trung học Quảng Ngãi, Chính ủy Trung đoàn và Phó Chính ủy Sư đoàn 305.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, ông tiếp tục đảm nhiệm nhiều vị trí lãnh đạo trong quân đội như Phó Chính ủy Sư đoàn 675, Chính ủy Lữ đoàn 270 và Phó Chính ủy Quân khu 4.
Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn ác liệt, từ năm 1964 đến năm 1975, ông giữ chức Phó Chính ủy Quân khu 5. Đây là một trong những chiến trường khốc liệt nhất miền Nam với các địa bàn Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Kon Tum, Gia Lai và Tây Nguyên.
Ông trực tiếp tham gia lãnh đạo, chỉ đạo nhiều chiến dịch lớn, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Sau ngày đất nước thống nhất, từ năm 1977 đến năm 1983, ông là Chính ủy kiêm Tư lệnh Quân khu 5.
Từ năm 1983 đến năm 1987, ông được giao trọng trách Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia. Trong giai đoạn này, ông tham gia chỉ đạo lực lượng Việt Nam phối hợp cùng lực lượng cách mạng Campuchia đánh bại chế độ diệt chủng Khmer Đỏ, góp phần ổn định tình hình khu vực.
Năm 1987, Đoàn Khuê được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.
Đến tháng 8 năm 1991, ông giữ cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam và đảm nhiệm chức vụ này đến năm 1997. Đây là giai đoạn đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, quân đội từng bước điều chỉnh tổ chức, xây dựng lực lượng chính quy và hiện đại hơn để phù hợp với tình hình mới.
Trong sự nghiệp quân ngũ, ông trải qua đầy đủ các cấp hàm tướng:
Thiếu tướng năm 1974
Trung tướng năm 1980
Thượng tướng năm 1984
Đại tướng năm 1990
Ông cũng là Ủy viên Trung ương Đảng liên tục từ khóa IV đến khóa VIII, Ủy viên Bộ Chính trị các khóa VI, VII và VIII, đồng thời là Đại biểu Quốc hội các khóa VII, VIII và IX.
Không chỉ là nhà quân sự, Đại tướng Đoàn Khuê còn là tác giả nhiều công trình nghiên cứu về nghệ thuật quân sự Việt Nam. Tác phẩm "Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975 - Thắng lợi và bài học" do ông đồng biên soạn đã được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2007.
Với những đóng góp to lớn cho đất nước và quân đội, ông được Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý:
Huân chương Sao Vàng (truy tặng năm 2007) - phần thưởng cao quý nhất của Nhà nước Việt Nam.
Huân chương Hồ Chí Minh.
Hai Huân chương Quân công hạng Nhất.
Hai Huân chương Chiến công hạng Nhất.
Huân chương Chiến thắng hạng Nhất.
Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.
Huân chương Chiến sĩ Giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba.
Huy chương Quân kỳ Quyết thắng cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.
Ngày 16/1/1999, Đại tướng Đoàn Khuê từ trần tại Hà Nội, hưởng thọ 75 tuổi. Ông được an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch, nơi yên nghỉ của nhiều đồng chí lãnh đạo và tướng lĩnh cao cấp của đất nước.
Để ghi nhớ công lao của ông, nhiều địa phương trên cả nước đã đặt tên đường Đoàn Khuê như Hà Nội, Đà Nẵng, Quảng Trị, Kon Tum, Đắk Lắk và Nam Định.
Từ người thanh niên bị thực dân Pháp đày đi Buôn Ma Thuột năm 17 tuổi đến vị Đại tướng giữ cương vị Bộ trưởng Quốc phòng, cuộc đời Đại tướng Đoàn Khuê là hành trình gần 60 năm cống hiến không ngừng nghỉ cho độc lập dân tộc, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam.



