Anh hùng Lực lượng vũ trang

Đại tướng Đoàn Khuê

Nhà quân sự xuất sắc của cách mạng Việt Nam

Quảng Trị04/03/2026Trần Hưng Khánh (Đoàn cơ sở Chi cục Hải quan khu vực IX)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Năm 1939, mới 16 tuổi, đồng chí Đoàn Khuê giác ngộ và tham gia hoạt động cách mạng trong Phong trào Thanh niên phản đế. Năm 1940, đồng chí bị thực dân Pháp bắt, giam tại nhà lao Quảng Trị, rồi nhà đày Buôn Ma Thuột. 5 năm phải chịu sự giam cầm, đày ải, tra tấn tàn bạo của kẻ thù, đồng chí vẫn một lòng kiên trung, giữ vững ý chí chiến đấu của người chiến sĩ cách mạng. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng chí Đoàn Khuê lần lượt giữ các chức vụ: Chính trị viên, Bí thư Hiệu ủy Trường Lục quân trung học Quảng Ngãi; Chính trị viên, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy nhiều trung đoàn chủ lực. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú, tác phong chỉ huy sâu sát, đồng chí đã cùng tập thể cấp ủy, chỉ huy lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng các đơn vị vững mạnh, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, lập nên nhiều chiến công vang dội trên chiến trường Tây Nguyên, tiêu biểu là chiến thắng Măng Đen, Chư Đrếch (năm 1954)...

Năm 1963, đồng chí Đoàn Khuê được Quân ủy Trung ương cử vào chiến trường miền Nam, lần lượt đảm nhiệm các chức vụ: Phó chính ủy Quân khu 5, Phó bí thư Quân khu ủy, Ủy viên Thường vụ Khu ủy Khu 5. Đồng chí đã cùng tập thể Khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 5 vận dụng sáng tạo nghệ thuật quân sự độc đáo của chiến tranh nhân dân Việt Nam vào thực tiễn; chỉ đạo quân và dân ta lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ. Đặc biệt, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, nhờ nắm chắc tình hình, đánh giá đúng tương quan lực lượng, đồng chí đã đề xuất kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị và nổi dậy của quần chúng thay cho dùng chủ lực tiến công thị xã Quy Nhơn (Bình Định), góp phần vào thắng lợi của quân và dân Khu 5.

Cuối năm 1974, khi bàn kế hoạch đánh địch ở đồng bằng Khu 5, trong Quân khu ủy Khu 5 có ý kiến đề nghị đánh vào phía Nam đồng bằng (Nam Quảng Ngãi, Bắc Bình Định), nơi địch yếu hơn, để bảo đảm chắc thắng, đồng chí Đoàn Khuê khẳng định chủ lực ta đủ sức giành thắng lợi ngay cả ở những nơi địch mạnh và đề xuất đánh vào khu vực phía Bắc đồng bằng (Nam Quảng Nam) để có thể tiến nhanh đến Đà Nẵng, kịp thời phối hợp với lực lượng của trên tiêu diệt vị trí này. Thực tế, với nhận định chính xác và tầm nhìn chiến lược trong đề xuất của đồng chí Đoàn Khuê, Quân khu 5 đã nhanh chóng giải phóng khu vực rộng lớn ở phía Nam Quảng Nam, mở lối tiến nhanh đến Đà Nẵng, kịp phối hợp với lực lượng chủ lực của Bộ tiêu diệt căn cứ này vào ngày 29-3-1975; góp phần vào “bước chân thần tốc” của quân và dân cả nước giải phóng miền Nam ngay trong tháng 4-1975.

Đất nước được thống nhất, trên cương vị Tư lệnh kiêm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Quân khu 5, Ủy viên Quân ủy Trung ương, đồng chí đã cùng tập thể Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 5 nghiên cứu nguồn gốc, tính chất hoạt động của lực lượng FULRO, kịp thời chuyển từ chủ trương “truy quét FULRO” thành “giải quyết vấn đề FULRO” với nhiều giải pháp đồng bộ về chính trị, quân sự, kinh tế-xã hội... góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn chiến lược Quân khu 5.

Khi tập đoàn phản động Pol Pot-Ieng Sari mở cuộc tiến công xâm lấn biên giới Tây Nam, đồng chí Đoàn Khuê cùng Bộ tư lệnh Quân khu 5 đã lãnh đạo, chỉ đạo LLVT tăng cường lực lượng bảo vệ tuyến biên giới, đánh bại các cuộc tiến công xâm lược của địch. Tiếp đó, chỉ huy các đơn vị chủ lực Quân khu phối hợp chặt chẽ với LLVT cách mạng Campuchia nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu, phá vỡ hoàn toàn tuyến phòng ngự cơ bản của địch, giải phóng một số tỉnh miền Đông Campuchia, góp phần cứu giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, hồi sinh đất nước.

Từ năm 1983 đến 1986, đồng chí giữ các chức vụ: Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Bộ tư lệnh 719, Phó trưởng ban rồi Trưởng ban lãnh đạo Đoàn chuyên gia giúp bạn Campuchia kiêm Tư lệnh Bộ tư lệnh 719. Đồng chí Đoàn Khuê đã chỉ đạo Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam khắc phục mọi khó khăn, thực hiện xuất sắc nhiệm vụ giúp cách mạng Campuchia phát triển LLVT, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, góp phần vun đắp mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị giữa hai nước Việt Nam - Campuchia.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn