Đại tướng Đoàn Khuê – Dấu ấn một nhà chiến lược kiên trung của cách mạng Việt Nam
Bài viết tái hiện cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng Đoàn Khuê – một nhà lãnh đạo quân sự, chính trị xuất sắc, người đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, đồng thời góp phần quan trọng trong công cuộc đổi mới và củng cố nền quốc phòng toàn dân.
Đoàn Khuê (bí danh Võ Tiến Trình) sinh ngày 29/10/1923 tại làng Gia Đẳng, xã Triệu Tân (nay là Triệu Lăng), huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị – vùng đất giàu truyền thống yêu nước và cách mạng. Sinh ra trong một gia đình sớm giác ngộ cách mạng, ông được hun đúc tinh thần yêu nước từ thuở nhỏ. Thân phụ ông là cụ Đoàn Cầu – một trong những đảng viên đầu tiên của địa phương. Gia đình ông có nhiều đóng góp lớn lao cho cách mạng, với nhiều người thân là liệt sĩ, được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý. Ngay từ tuổi thiếu niên, Đoàn Khuê đã tham gia phong trào Thanh niên phản đế, sớm đảm nhiệm vai trò Bí thư cấp phủ. Năm 1940, khi phong trào cách mạng đang phát triển mạnh mẽ, ông bị thực dân bắt giữ, kết án tù và đày lên Buôn Ma Thuột. Gần 5 năm trong lao tù khắc nghiệt không làm lung lay ý chí mà trái lại, trở thành môi trường rèn luyện bản lĩnh chính trị, tư duy tổ chức và tinh thần đấu tranh kiên cường của người chiến sĩ cách mạng. Tại đây, ông tích cực tham gia các hoạt động bí mật, củng cố tổ chức Đảng trong tù, đồng thời không ngừng học tập, nâng cao nhận thức và tích lũy kinh nghiệm thực tiễn. Sau khi được trả tự do vào tháng 5/1945, ông nhanh chóng trở lại hoạt động cách mạng tại Quảng Bình, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và giữ vai trò lãnh đạo trong Mặt trận Việt Minh địa phương. Với sự nhạy bén chính trị và quyết đoán trong hành động, ông đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám tại địa bàn. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, Đoàn Khuê được giao nhiệm vụ chỉ huy tại chiến trường Liên khu 5 – một trong những địa bàn ác liệt nhất. Trên cương vị lãnh đạo, ông luôn sâu sát thực tiễn, cùng cấp ủy và đơn vị vượt qua muôn vàn khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, đất nước tạm thời chia cắt, ông tiếp tục đảm nhận trọng trách tại khu vực giới tuyến, giữ chức Chính ủy Lữ đoàn 270, góp phần xây dựng Vĩnh Linh thành “lũy thép” vững chắc nơi tuyến đầu. Bước vào giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ông được Đảng tin tưởng cử vào chiến trường Khu 5 – nơi diễn ra những trận đánh quyết liệt nhất. Với vai trò lãnh đạo, ông đã cùng Quân khu ủy xây dựng ý chí chiến đấu kiên cường cho toàn lực lượng, phát huy tinh thần “dám đánh, biết đánh và quyết thắng”. Dưới sự chỉ đạo của tập thể lãnh đạo mà ông là một trong những hạt nhân quan trọng, quân và dân Khu 5 đã lập nên nhiều chiến công vang dội qua các trận đánh lớn, góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường. Trong giai đoạn sau Hiệp định Pa-ri năm 1973, với cương vị Phó Chính ủy Quân khu 5, ông đã chỉ đạo giữ vững lập trường cách mạng, chống tư tưởng chủ quan, mất cảnh giác, đồng thời củng cố lực lượng, chuẩn bị cho những chiến dịch निर्णायक. Những đóng góp của ông đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Sau ngày đất nước thống nhất, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và giữ nhiều trọng trách quan trọng như Tư lệnh, Chính ủy Quân khu 5. Dưới sự lãnh đạo của ông, lực lượng vũ trang quân khu đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ổn định tình hình, khắc phục hậu quả chiến tranh, đồng thời tham gia giải quyết các vấn đề an ninh phức tạp như FULRO, góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội. Trong nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia, Đoàn Khuê tiếp tục thể hiện tầm vóc của một nhà lãnh đạo chiến lược. Trên các cương vị quan trọng trong Bộ Tư lệnh 719 và đoàn chuyên gia, ông đã cùng tập thể lãnh đạo xác định đúng đắn phương hướng giúp bạn, củng cố mối quan hệ đoàn kết giữa hai quốc gia Việt Nam – Campuchia, đúng với tinh thần mà Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Giúp bạn là tự giúp mình”. Trong thời kỳ đổi mới, với cương vị Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, ông đã có những đóng góp mang tính chiến lược trong việc điều chỉnh tư duy quân sự, quốc phòng phù hợp với bối cảnh mới. Ông tham mưu xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với an ninh nhân dân, chủ động ứng phó với các hình thái chiến tranh hiện đại và các nguy cơ phi truyền thống. Đồng thời, ông cũng là người thúc đẩy chủ trương kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng, xây dựng các khu vực phòng thủ vững chắc trên phạm vi cả nước. Với hơn bốn thập kỷ hoạt động cách mạng liên tục trên nhiều chiến trường và cương vị khác nhau, Đại tướng Đoàn Khuê đã để lại dấu ấn sâu sắc trên cả phương diện lý luận và thực tiễn. Ông là hiện thân của người chiến sĩ cộng sản kiên trung, nhà lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược, luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc và Quân đội lên trên hết. Những cống hiến to lớn của ông đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.



