Đại tướng Đoàn Khuê – Người Chiến Sĩ Cộng Sản Kiên Cường, Vị Tướng Xuất Sắc Của Đất Lửa Quảng Trị
Trong dòng chảy lịch sử đầy tự hào của cách mạng Việt Nam, Quảng Trị không chỉ là vùng đất lửa anh hùng mà còn là nơi sinh ra những người con ưu tú, hiến dâng trọn đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Trong số những người con kiệt xuất ấy, Đại tướng Đoàn Khuê (bí danh Võ Tiến Trình) hiện lên như một nhà chính trị, nhà quân sự xuất sắc của Đảng và Quân đội ta, người chiến sĩ cộng sản kiên cường suốt đời đặt lợi ích cách mạng lên trên hết.

Đại tướng Đoàn Khuê – Người Chiến Sĩ Cộng Sản Kiên Cường, Vị Tướng Xuất Sắc Của Đất Lửa Quảng Trị
Trong dòng chảy lịch sử đầy tự hào của cách mạng Việt Nam, Quảng Trị không chỉ là vùng đất lửa anh hùng mà còn là nơi sinh ra những người con ưu tú, hiến dâng trọn đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Trong số những người con kiệt xuất ấy, Đại tướng Đoàn Khuê (bí danh Võ Tiến Trình) hiện lên như một nhà chính trị, nhà quân sự xuất sắc của Đảng và Quân đội ta, người chiến sĩ cộng sản kiên cường suốt đời đặt lợi ích cách mạng lên trên hết.
Từ cái nôi cách mạng Gia Đẳng đến bản lĩnh kiên cường trong lao tù
Đại tướng Đoàn Khuê sinh ngày 29/10/1923 tại làng Gia Đẳng, xã Triệu Tân (nay là xã Triệu Lăng), huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Ông sinh trưởng trong một gia đình giàu lòng yêu nước và giàu truyền thống đấu tranh cách mạng. Cụ thân sinh của ông là cụ Đoàn Cầu, người cộng sản đầu tiên của làng Gia Đẳng. Gia đình ông là một biểu tượng vĩ đại của sự hy sinh khi có đến 5 người con là liệt sĩ, cụ bà thân sinh được phong tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, cùng hai người em trai cũng là những sĩ quan cao cấp trong quân đội là Trung tướng Đoàn Chương và Đại tá Đoàn Thúy.
Sớm tiếp thu truyền thống quê hương, khi mới 16 tuổi (năm 1939), người thanh niên Đoàn Khuê đã dấn thân vào con đường cách mạng, tham gia phong trào Thanh niên phản đế và sau đó đảm nhiệm vai trò Bí thư Phủ ủy Thanh niên phản đế phủ Triệu Phong. Ông đã cùng tổ chức rải truyền đơn kêu gọi nhân dân hưởng ứng khởi nghĩa Bắc Sơn đánh đuổi phát-xít Nhật và thực dân Pháp. Trước sự truy tìm ráo riết của kẻ thù, ngày 30/10/1940, ông bị bắt giam tại nhà lao Quảng Trị và sau đó bị đưa đi đày ở Buôn Ma Thuột.
Gần 5 năm ròng rã chịu đựng sự đày ải và tra tấn dã man trong ngục tù đế quốc, người chiến sĩ trẻ vẫn luôn tỏ rõ chí khí kiên cường, bất khuất. Ngay trong bóng tối nhà tù, ông đã tích cực rèn luyện phẩm chất đạo đức, nâng cao lý luận, tự học tiếng đồng bào dân tộc Tây Nguyên và những kiến thức quân sự đầu tiên. Tháng 5/1945, sau khi ra tù, ông lập tức lao vào gây dựng cơ sở cách mạng tại Quảng Bình, giữ chức Chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh tỉnh và đóng góp tích cực vào thắng lợi của cuộc khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân tại đây.
Xây dựng "lũy thép" giới tuyến và bản lĩnh nơi chiến trường Khu 5
Sau Cách mạng Tháng Tám, đồng chí Đoàn Khuê được giao nhiệm vụ chiến đấu và chỉ huy trên những địa bàn vô cùng khó khăn, ác liệt tại chiến trường Liên khu 5. Khi đất nước tạm thời bị chia cắt sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, ông đảm nhận chức vụ Chính ủy Lữ đoàn 270 bảo vệ khu vực giới tuyến quân sự vĩ tuyến 17. Bằng sự sát sao và tinh thần trách nhiệm cao, ông đã cùng tập thể chỉ huy lữ đoàn phối hợp với các lực lượng vũ trang và cấp ủy địa phương xây dựng Vĩnh Linh thành một "lũy thép" kiên cường. Đồng thời, ông cũng góp công lớn trong việc xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh tại các huyện Gio Linh, Cam Lộ, tạo dựng cơ sở vững chắc cho những chiến công lừng lẫy sau này.
Đầu năm 1963, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn quyết liệt, ông được cử vào Nam trực tiếp chỉ huy chiến đấu tại chiến trường Khu 5. Tại đây, trên cương vị lãnh đạo, ông đã cùng Quân khu ủy chỉ đạo hiệu quả công tác tư tưởng, xây dựng bản lĩnh kiên cường "Dám đánh và quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược". Ý chí ấy đã làm nên những chiến công vang dội đi đầu diệt Mỹ tại Vạn Tường, Plây me, Đồng Dương, Xuân Sơn. Đặc biệt, vào thời điểm ký kết Hiệp định Paris (1/1973), với vai trò Phó Chính ủy Quân khu 5, ông đã kịp thời chỉ đạo các lực lượng giữ vững bạo lực cách mạng, chống ảo tưởng mất cảnh giác để bảo vệ vùng giải phóng, chuẩn bị lực lượng cho thắng lợi huy hoàng mùa xuân năm 1975.
Sứ mệnh hòa bình và nghĩa vụ quốc tế cao cả
Sau ngày non sông thống nhất, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (12/1976), đồng chí Đoàn Khuê được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và bổ nhiệm làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5. Dưới sự lãnh đạo của ông, lực lượng vũ trang quân khu đã đoàn kết một lòng, khắc phục hậu quả chiến tranh, tăng cường quốc phòng, phát triển kinh tế và thực hiện thắng lợi nhiệm vụ "giải quyết FULRO" nhằm ổn định tình hình chính trị - xã hội. Không dừng lại ở đó, đối với nhiệm vụ quốc tế giúp đỡ cách mạng Campuchia, vào tháng 1/1979, ông trực tiếp làm Tư lệnh chiến dịch trên một hướng chiến lược, chuẩn bị kỹ lưỡng lực lượng và chỉ huy tiến công giành thắng lợi hoàn toàn.
Hơn 40 năm gắn bó máu thịt với sự nghiệp giải phóng miền Nam và làm nghĩa vụ quốc tế cao cả, cuộc đời của Đại tướng Đoàn Khuê là một tấm gương sáng ngời về sự tận tụy, sâu sát thực tiễn và tinh thần phấn đấu không mệt mỏi. Sự kiên cường trong lao tù, tài thao lược trên chiến trường và tầm nhìn trong xây dựng quân đội của ông mãi là di sản quý báu, nguồn cảm hứng lớn lao cho các thế hệ trẻ hôm nay trên con đường xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.



