Bài viết

Đại tướng Đoàn Khuê – Nhà chính trị, quân sự song toàn, người cán bộ sâu sát, mẫu mực của Quân đội nhân dân Việt Nam

Đại tướng Đoàn Khuê (1923–1999) là một chiến sĩ cộng sản kiên trung, nhà chính trị, quân sự xuất sắc của Đảng và Quân đội nhân dân Việt Nam. Suốt 60 năm hoạt động cách mạng, đồng chí trải qua nhiều cương vị, chiến đấu và công tác tại những địa bàn trọng điểm, từ Liên khu 5, Quân khu 4, Quân khu 5 đến chiến trường Campuchia và Bộ Quốc phòng. Đồng chí nổi bật bởi bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy quân sự sắc bén, phong cách dân chủ, sâu sát cơ sở, luôn đặt lợi ích của Đảng, Tổ quốc và nhân dân lên trên hết.

Quảng Trị11/08/2026Hoàng Quốc Thái (Bảo Lâm 1)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Đại tướng Đoàn Khuê – Nhà chính trị, quân sự song toàn, người cán bộ sâu sát, mẫu mực của Quân đội nhân dân Việt Nam

Đại tướng Đoàn Khuê, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, là một trong những vị tướng tiêu biểu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong suốt 60 năm hoạt động cách mạng (1939–1999), đồng chí đã trải qua nhiều cương vị, từ cán bộ cơ sở đến những vị trí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Quân đội. Ở bất cứ nơi đâu, trong hoàn cảnh nào, đồng chí cũng thể hiện bản lĩnh của một người cộng sản kiên trung, hết lòng phụng sự Tổ quốc, nhân dân và sự nghiệp cách mạng.

Người cán bộ chính trị kiên trung, mẫu mực

Đồng chí Đoàn Khuê sinh ngày 29-10-1923, quê tại Quảng Trị. Từ khi còn rất trẻ, đồng chí đã sớm giác ngộ cách mạng. Năm 1939, khi mới 16 tuổi, đồng chí tham gia phong trào thanh niên phản đế ở phủ Triệu Phong. Một năm sau, đồng chí bị thực dân Pháp bắt, kết án tù và giam tại nhà lao Quảng Trị, sau đó bị đày lên nhà tù Buôn Ma Thuột.

Hơn 5 năm bị giam cầm, tra tấn, đồng chí vẫn giữ vững khí tiết, không khuất phục trước kẻ thù. Tháng 5-1945, sau khi thoát khỏi nhà tù, đồng chí trở về Quảng Bình gây dựng cơ sở cách mạng, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và được giao làm Chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh tỉnh. Đồng chí tích cực xây dựng lực lượng, vận động quần chúng và tham gia lãnh đạo nhân dân giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám.

Khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược, đồng chí Đoàn Khuê được giao nhiều nhiệm vụ quan trọng trong lực lượng vũ trang. Đồng chí lần lượt đảm nhiệm các cương vị chính trị viên, bí thư đảng ủy ở nhiều đơn vị, trực tiếp tham gia xây dựng lực lượng và lãnh đạo bộ đội chiến đấu trên những địa bàn ác liệt của Liên khu 5.

Trong những năm 1948–1954, trên cương vị Chính ủy, Bí thư Trung đoàn ủy Trung đoàn 84 rồi Trung đoàn 108, đồng chí đặc biệt chú trọng xây dựng tổ chức Đảng, nâng cao chất lượng chính trị và sức chiến đấu của bộ đội. Đồng chí quan tâm xây dựng lực lượng phù hợp với đặc điểm địa bàn, chú trọng công tác dân vận, xây dựng cơ sở cách mạng trong vùng đồng bào dân tộc và vùng địch hậu.

Phong cách làm việc dân chủ, sâu sát thực tiễn của đồng chí đã tạo được sự tin tưởng trong cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Đồng chí không chỉ quan tâm đến công tác chính trị mà còn trực tiếp nghiên cứu tình hình chiến trường, cùng tập thể cấp ủy, chỉ huy tìm ra phương án phù hợp để vừa xây dựng lực lượng, vừa chiến đấu.

Dấu ấn trong chiến thắng Măng Đen

Một trong những dấu ấn nổi bật của Đại tướng Đoàn Khuê trong kháng chiến chống Pháp là trận đánh Măng Đen cuối tháng 1-1954.

Măng Đen là cứ điểm quan trọng trong tuyến phòng thủ của thực dân Pháp ở Bắc Tây Nguyên. Đây là một trận công kiên khó khăn, đòi hỏi người chỉ huy phải có quyết tâm cao và khả năng xử trí linh hoạt.

Trong quá trình chuẩn bị và chỉ huy trận đánh, đồng chí Đoàn Khuê trực tiếp có mặt ở những nơi khó khăn, ác liệt để nắm tình hình và động viên bộ đội. Trước diễn biến thực tế, đồng chí cùng Ban chỉ huy Trung đoàn 108 quyết định chuyển hướng tiến công thứ yếu thành hướng chủ yếu.

Đây là quyết định táo bạo nhưng chính xác, tạo yếu tố bất ngờ khiến quân Pháp không kịp trở tay. Cứ điểm Măng Đen bị tiêu diệt, góp phần quan trọng vào thắng lợi của lực lượng vũ trang Liên khu 5. Từ đó, tên tuổi Chính ủy Trung đoàn 108 Đoàn Khuê gắn liền với chiến thắng Măng Đen.

Người chỉ huy mưu lược trên chiến trường Khu 5

Đầu năm 1963, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn ngày càng quyết liệt, đồng chí Đoàn Khuê được điều vào chiến trường Khu 5 và gắn bó với nơi đây cho đến ngày đất nước thống nhất.

Trên các cương vị Phó chính ủy Quân khu 5, Phó bí thư Quân khu ủy, Ủy viên Thường vụ Khu ủy Khu 5 và Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên, đồng chí tập trung xây dựng sức mạnh chính trị tinh thần cho lực lượng vũ trang và nhân dân.

Đồng chí đặc biệt coi trọng việc phát huy sức mạnh chiến tranh nhân dân, xây dựng thế trận lòng dân và nâng cao ý chí quyết chiến, quyết thắng. Trong phong trào phá “ấp chiến lược”, đồng chí cùng tập thể Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 5 chỉ đạo quân và dân từng bước phá thế kìm kẹp của địch, mở rộng vùng giải phóng.

Khi Mỹ trực tiếp đưa quân vào miền Nam, đồng chí Đoàn Khuê cùng tập thể lãnh đạo Quân khu 5 nghiên cứu phương thức tác chiến phù hợp, phát triển các “Vành đai diệt Mỹ” ở Đà Nẵng, Chu Lai, An Khê và nhiều địa bàn khác. Những vành đai này tạo thế trận đan xen, áp sát các căn cứ của đối phương, phát huy sức mạnh của chiến tranh nhân dân.

Trên chiến trường Khu 5, đồng chí đã cùng tập thể lãnh đạo, chỉ huy tổ chức và chỉ đạo nhiều trận đánh quan trọng như Vạn Tường, Plei Me, Đồng Dương, Xuân Sơn... góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường.

Trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, khi đối phương tổ chức phản công mạnh, đồng chí đã cùng Bộ tư lệnh Quân khu 5 kịp thời điều chỉnh phương thức hoạt động, sử dụng lực lượng phù hợp để giữ vững thế trận.

Đặc biệt, sau Hiệp định Paris năm 1973, trước biểu hiện chủ quan, mất cảnh giác ở một số đơn vị, đồng chí Đoàn Khuê đã kịp thời chỉ đạo cán bộ, chiến sĩ không được ảo tưởng về hòa bình, phải tiếp tục giữ vững cảnh giác, củng cố lực lượng và kiên quyết chống các hoạt động lấn chiếm của đối phương.

Tư tưởng chỉ đạo được đồng chí đúc kết thành yêu cầu: muốn thắng Mỹ phải phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, giữ vững quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ đến cùng.

Góp phần vào thắng lợi mùa Xuân 1975

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đồng chí Đoàn Khuê cùng tập thể Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 5 xử trí linh hoạt nhiều tình huống phức tạp, góp phần quan trọng vào chiến thắng trên chiến trường miền Trung.

Đặc biệt, thắng lợi trong chiến dịch giải phóng Đà Nẵng đã tạo ra bước phát triển mới, làm tan rã nhanh chóng hệ thống phòng thủ của đối phương tại miền Trung, tạo điều kiện thuận lợi để quân và dân ta tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Sau ngày đất nước thống nhất, đồng chí tiếp tục đảm nhiệm nhiều trọng trách. Trước hoạt động chống phá của lực lượng FULRO trên địa bàn Quân khu 5, đồng chí cùng Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu đã có sự chuyển hướng quan trọng: từ đơn thuần “truy quét” sang giải quyết toàn diện vấn đề FULRO bằng sự kết hợp giữa quân sự, chính trị, xây dựng cơ sở và phát triển kinh tế - xã hội.

Đây là một cách tiếp cận có ý nghĩa chiến lược, góp phần ổn định tình hình, củng cố an ninh chính trị và tăng cường sự gắn bó giữa nhân dân với chính quyền cách mạng.

Hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ quốc tế tại Campuchia

Đầu năm 1983, đồng chí Đoàn Khuê được giao nhiệm vụ tại Bộ tư lệnh 719 và Đoàn chuyên gia Việt Nam tại Campuchia. Năm 1986, đồng chí được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh Bộ tư lệnh 719.

Trong thời gian thực hiện nhiệm vụ quốc tế, đồng chí phải hoạt động trong điều kiện đặc biệt khó khăn, phức tạp. Các thế lực thù địch liên tục chống phá chính quyền cách mạng Campuchia.

Với phong cách sâu sát, tỉ mỉ, đồng chí thường xuyên xuống tận cơ sở, đến những nơi chiến đấu gian khổ để nắm tình hình, động viên cán bộ, chiến sĩ và nhân dân nước bạn. Đồng chí cùng tập thể lãnh đạo chỉ đạo các lực lượng hoàn thành nhiệm vụ quốc tế cao cả, góp phần giúp nhân dân Campuchia bảo vệ thành quả cách mạng và hồi sinh đất nước.

Hình ảnh người lính Việt Nam giúp nhân dân Campuchia vượt qua thảm họa diệt chủng đã góp phần vun đắp tình đoàn kết, hữu nghị giữa hai dân tộc.

Nhà lãnh đạo có tầm nhìn về quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc

Trên cương vị Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, rồi Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Đoàn Khuê tiếp tục có nhiều đóng góp quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội và bảo vệ Tổ quốc.

Đồng chí cùng tập thể lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội tham mưu, đề xuất nhiều chủ trương nhằm xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đồng thời xây dựng lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ và củng cố Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh.

Một trong những dấu ấn quan trọng của đồng chí là tham gia nghiên cứu, đề xuất điều chỉnh chiến lược quốc phòng phù hợp với tình hình mới. Từ yêu cầu chuẩn bị đối phó với chiến tranh quy mô lớn, tư duy quốc phòng từng bước chuyển sang chủ động đối phó với các hình thức xung đột, chiến tranh phá hoại nhiều mặt, “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ và những nguy cơ an ninh mới.

Đồng chí đặc biệt quan tâm xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố và kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh.

Quan điểm của Đại tướng được thể hiện rõ: xây dựng kinh tế và củng cố quốc phòng tuy có những quy luật vận động riêng nhưng thống nhất trong mục tiêu chung là làm cho đất nước giàu mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Tấm gương về đạo đức và phong cách người cán bộ cách mạng

Không chỉ được đánh giá cao về tài năng chính trị, quân sự, Đại tướng Đoàn Khuê còn được đồng chí, đồng đội và nhân dân kính trọng bởi lối sống giản dị, khiêm tốn, trung thực, liêm khiết và gần gũi.

Đại tướng Lê Đức Anh từng nhận xét đồng chí Đoàn Khuê là người “trung thực, khiêm tốn, giản dị, liêm khiết và nghiêm khắc đối với mình, nhưng hết mực thương yêu đồng chí, đồng đội, gần gũi với nhân dân”.

Đó cũng là nét nổi bật trong phong cách của Đại tướng: nói đi đôi với làm, sâu sát thực tiễn, dân chủ trong lãnh đạo, quyết đoán khi cần thiết và luôn đặt lợi ích của cách mạng lên trên lợi ích cá nhân.

Từ một thanh niên giác ngộ cách mạng ở tuổi 16, trải qua nhà tù thực dân, những năm tháng chiến đấu tại các chiến trường ác liệt, đến khi trở thành cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng và Quân đội, Đại tướng Đoàn Khuê luôn giữ vững phẩm chất của người chiến sĩ cộng sản.

Hơn 60 năm hoạt động cách mạng của đồng chí là một hành trình cống hiến bền bỉ cho Tổ quốc, nhân dân và Quân đội. Những đóng góp trên các chiến trường Liên khu 5, Quân khu 4, Quân khu 5, Tây Nguyên, Campuchia cũng như trong công cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân đã để lại dấu ấn sâu sắc.

Đại tướng Đoàn Khuê xứng đáng là một nhà chính trị, quân sự song toàn, một vị tướng mưu lược, một người chỉ huy sâu sát và một tấm gương sáng về phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Di sản về tư duy quân sự, xây dựng Quân đội, kết hợp kinh tế với quốc phòng và phong cách gần dân, sát cơ sở của đồng chí vẫn có giá trị để các thế hệ hôm nay học tập, vận dụng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Đại tướng Đoàn Khuê – Nhà chính trị, quân sự song toàn, người cán bộ sâu sát, mẫu mực của Quân đội nhân dân Việt Nam | Câu chuyện thời hoa lửa