Đại tướng Đoàn Khuê – Vị tướng kiên trung nơi tuyến lửa Khu 5 và biên giới Tây Nam
Người chiến sĩ từ nhà tù Buôn Ma Thuột trưởng thành lên Tư lệnh Quân khu 5, Tư lệnh Mặt trận 579 làm nghĩa vụ quốc tế và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
ại tướng Đoàn Khuê (bí danh Võ Tiến Trình, 1923 – 1999) sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng tại thôn Gia Đẳng, xã Triệu Lăng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị (gia đình ông có Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Dương và 5 anh em ruột là liệt sĩ). Tham gia thanh niên phản đế từ năm 16 tuổi, năm 1940 ông bị thực dân Pháp bắt giam và đày lên nhà tù Buôn Ma Thuột. Tại đây, ông được kết nạp vào Đảng trong chi bộ nhà tù và sau khi ra tù năm 1945 đã trực tiếp lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền tại tỉnh Quảng Bình.
Trong suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp và hơn 10 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đồng chí Đoàn Khuê luôn có mặt tại chiến trường Liên khu 5 và Quân khu 5 gian khổ ác liệt nhất. Từ Chính ủy Trung đoàn 83, Trung đoàn 108 chủ lực đánh thắng nhiều trận vang dội ở Bắc Tây Nguyên năm 1954, ông trở lại miền Nam năm 1963 giữ trọng trách Phó Chính ủy Quân khu 5, trực tiếp chỉ đạo công tác chính trị tư tưởng tạo nên những 'vành đai diệt Mỹ' ở Chu Lai, Đà Nẵng và các chiến dịch Ba Gia, Đồng Dương, Tây Nguyên – Huế – Đà Nẵng năm 1975.
Sau năm 1975, trên cương vị Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5 rồi Tư lệnh Mặt trận 579, khi tập đoàn Pol Pot xâm phạm biên giới Tây Nam ở khu vực các tỉnh Tây Nguyên, tướng Đoàn Khuê đã trực tiếp chỉ huy lực lượng vũ trang Quân khu 5 đánh trả quyết liệt bảo vệ biên cương và tiến quân giải phóng vùng Đông Bắc Campuchia.
Ông được phong quân hàm Đại tướng năm 1990 và giữ trọng trách Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (1991 – 1997), có công lao to lớn trong việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân thời kỳ Đổi mới.



