Bài viết

ĐẠI TƯỚNG HOÀNG VĂN THÁI: NGƯỜI ANH CẢ CỦA NGÀNH THAM MƯU CHIẾN LƯỢC VÀ HUYỀN THOẠI 4 LẦN TỪ CHỐI VINH HOA

Hưng Yên14/08/2026Lê Thị Thanh Vân ((LĐ) Đoàn phường Lang Biang - Đà Lạt)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

ĐẠI TƯỚNG HOÀNG VĂN THÁI: NGƯỜI ANH CẢ CỦA NGÀNH THAM MƯU CHIẾN LƯỢC VÀ HUYỀN THOẠI 4 LẦN TỪ CHỐI VINH HOA

Nếu lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam ghi danh Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người Anh cả của toàn quân, thì Đại tướng Hoàng Văn Thái chính là cánh tay phải đắc lực đặt nền móng vững chắc cho Bộ Tổng Tham mưu — cơ quan đầu não quyết định thành bại của những trận quyết chiến chiến lược.

Sinh ngày 1 tháng 5 năm 1915 tại vùng đất học Tiền Hải, Thái Bình với tên khai sinh là Hoàng Văn Xiêm, người thanh niên yêu nước ấy đã sớm giác ngộ cách mạng và trở thành một trong 34 chiến sĩ đầu tiên của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân vào ngày 22 tháng 12 năm 1944. Giữ trọng trách cầm lá cờ đỏ sao vàng trong buổi lễ thành lập Đội, ông đã khẳng định nhãn quan quân sự nhạy bén khi đề xuất đánh đồn Phai Khắt mở màn thay vì phục kích, tạo nên chiến thắng đầu tiên lẫy lừng cho quân đội ta.

Ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp giao nhiệm vụ cho ông thành lập và giữ chức Tổng Tham mưu trưởng đầu tiên khi mới 30 tuổi. Trải qua thực tiễn khốc liệt của hai cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, ông trở thành vị tướng mẫu mực, người làm công tác tham mưu suốt cả cuộc đời, người học trò ưu tú của Bác Hồ với một binh nghiệp hiển hách gắn liền với những dấu mốc vĩ đại nhất của dân tộc.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, với cương vị Chỉ huy trưởng Mặt trận Bắc Kạn, Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái đã cụ thể hóa phương châm “đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung”, đập tan ý đồ đánh nhanh thắng nhanh của địch trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947. Đến Chiến dịch Biên giới năm 1950, trên cương vị Tham mưu trưởng chiến dịch, Thiếu tướng Hoàng Văn Thái cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã quyết định chuyển hướng tấn công mở màn từ thị xã Cao Bằng sang cứ điểm Đông Khê, trực tiếp chỉ huy trận "đột phá khẩu" then chốt này để làm xoay chuyển toàn bộ cục diện chiến trường.

Đặc biệt, trong trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ năm 1954, ông đảm nhận vai trò Tham mưu trưởng chiến dịch, dẫn đầu đoàn tiền phương lên Tây Bắc khảo sát thực địa tập đoàn cứ điểm Nà Sản để rút kinh nghiệm sâu sắc. Khi phương châm chuyển từ "đánh nhanh thắng nhanh" sang "đánh chắc tiến chắc", ông đã chỉ đạo cơ quan tham mưu huấn luyện lại cách đánh tập đoàn cứ điểm, tổ chức hiệp đồng binh chủng bộ binh - pháo binh và đào hệ thống giao thông hào siết chặt vòng vây, góp phần làm nên chiến thắng "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu".

Bước sang cuộc kháng chiến chống Mỹ, khi chiến lược "Chiến tranh cục bộ" bùng nổ, Trung tướng Hoàng Văn Thái một lần nữa được cử vào những chiến trường nóng bỏng nhất. Ông giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5 vào năm 1966, rồi năm 1967 được điều vào Nam giữ chức Phó Bí thư Trung ương Cục, Phó Bí thư Quân ủy Miền kiêm Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam với bí danh Mười Khang. Ông trực tiếp chỉ huy lực lượng ta trong sự kiện Tết Mậu Thân 1968, các chiến dịch Lộc Ninh, Tây Ninh và đỉnh cao là Tư lệnh kiêm Chính ủy Chiến dịch tiến công tổng hợp Quân khu 8 năm 1972, đưa nghệ thuật phối hợp ba mũi giáp công quân sự, chính trị, binh vận lên tầm cao mới ở đồng bằng sông Cửu Long.

Đầu năm 1974, ông trở lại Bắc giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Phó Tổng Tham mưu trưởng Thứ nhất. Tại đây, ông cùng Tổ trung tâm Bộ Tổng Tham mưu ròng rã chuẩn bị, hoàn thiện kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam từ dự thảo thứ tư đến thứ tám, đồng thời nỗ lực điều phối, đôn đốc toàn bộ công tác chi viện sức người sức của, bảo đảm tối đa vũ khí đạn dược cho trận quyết chiến cuối cùng — Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975, thống nhất hoàn toàn non sông.

Bên cạnh tài năng thiên bẩm của một nhà tham mưu lỗi lạc, Đại tướng Hoàng Văn Thái còn là biểu tượng ngời sáng của một nhân cách lớn, một con người chí công vô tư, hoàn toàn không có chủ nghĩa cá nhân và từ chối mọi vinh hoa, quyền lực để cống hiến trọn vẹn cho việc nước, việc quân. Trong suốt cuộc đời mình, ông đã có tới bốn lần khước từ những danh hiệu và chức vụ cao quý mà người đời hằng mơ ước: năm 1959 ông từ chối đặc cách vượt cấp lên hàm Thượng tướng để nhận hàm Trung tướng theo đúng quy định; sau năm 1975 ông từ chối lời đề nghị trở thành ủy viên Bộ Chính trị để tập trung toàn bộ tâm huyết vào nghiên cứu lịch sử quân sự; ông cũng từ chối việc đề bạt giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và chức vụ Chủ tịch Hội đồng An ninh Quốc gia đầu tiên của Việt Nam trước thềm Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI.

Bên cạnh cuộc sống binh nghiệp, ông còn là một người yêu âm nhạc, biết kéo nhị, thổi kèn và là tác giả của ca khúc "Phất cờ nam tiến" ra đời ngay đêm trước ngày thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Ông am tường tiếng Trung, tiếng Tày, Nùng và sử dụng được tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Anh. Vào lúc 5 giờ 7 phút sáng ngày 2 tháng 7 năm 1986, vị đại tướng lỗi lạc đột ngột qua đời sau một cơn đau tim tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 ở tuổi 71, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho đồng bào và chiến sĩ cả nước. Đúng như lời nhận xét của cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, ông là một vị tướng trận mạc sống nhân hậu, tình nghĩa, một người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh có đức độ và tài năng trọn vẹn, xứng đáng yên nghỉ tại Nghĩa trang Mai Dịch lịch sử.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn