Đại tướng Hoàng Văn Thái – Người Tư lệnh Miền trong mùa xuân Mậu Thân
Trần Đặng Mỹ Hoa
Thời kỳ: 1967–1968
Tháng 10 năm 1967, Hoàng Văn Thái được cử từ Khu 5 vào chiến trường Nam Bộ, giữ chức Phó Bí thư Trung ương Cục, Phó Bí thư Quân ủy Miền và Tư lệnh Bộ Chỉ huy Miền. Đây là thời điểm công tác chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đang được tiến hành khẩn trương. Ông phải nhanh chóng nắm một chiến trường rất rộng, bao gồm Nam Bộ, cực nam Trung Bộ và một phần nam Tây Nguyên.
B2 có những đặc điểm khác Khu 5. Sài Gòn là trung tâm đầu não chính trị, quân sự của đối phương, được bảo vệ bằng nhiều tuyến phòng thủ. Chung quanh đô thị là vùng ven, căn cứ và hệ thống giao thông có ý nghĩa chiến lược. Lực lượng vũ trang cách mạng gồm chủ lực Miền, bộ đội quân khu, địa phương, biệt động và du kích, mỗi lực lượng có khả năng cùng phương thức hoạt động khác nhau.
Ngay khi nhận nhiệm vụ, Hoàng Văn Thái cùng Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền tổ chức nhiều cuộc họp, rà soát kế hoạch tác chiến, chuẩn bị lực lượng và giao nhiệm vụ cho các quân khu, đơn vị. Công tác giữ bí mật đặc biệt nghiêm ngặt, trong khi thời gian chuẩn bị ngắn và yêu cầu đưa lực lượng, vũ khí vào gần đô thị rất lớn.
Từ cuối tháng 10 đến tháng 12 năm 1967, Bộ Chỉ huy Miền sử dụng lực lượng mở Chiến dịch Lộc Ninh–Đường 13. Hoạt động này nhằm tiêu hao đối phương, lôi kéo một bộ phận quan trọng quân Mỹ ra khu vực bên ngoài và tạo điều kiện cho việc chuẩn bị tiến công các đô thị. Nhiều hoạt động chống phá bình định tại vùng ven cũng được đẩy mạnh để duy trì hành lang và cơ sở.
Tết Mậu Thân năm 1968, các lực lượng cách mạng đồng loạt tiến công nhiều thành phố, thị xã và căn cứ quân sự. Tại Sài Gòn, những mục tiêu quan trọng bị tiến công, tạo ra chấn động lớn về chính trị và tâm lý. Đối với quân đội Mỹ, việc chiến sự xuất hiện ngay tại những nơi được coi là an toàn làm lung lay tuyên bố rằng họ đang tiến gần đến chiến thắng.
Cuộc Tổng tiến công cũng gây cho lực lượng cách mạng những tổn thất nặng nề. Một số mục tiêu chưa đạt như dự kiến, việc phối hợp giữa tiến công quân sự với nổi dậy không đồng đều và lực lượng ở nhiều địa bàn bị suy giảm. Việc đánh giá Mậu Thân vì thế cần nhìn cả tác động chiến lược lẫn cái giá rất lớn trên chiến trường.
Hoàng Văn Thái cùng tập thể lãnh đạo Miền phải vừa tiếp tục chỉ huy, vừa tổng kết những vấn đề nảy sinh. Với tác phong của một nhà tham mưu, ông chú ý xác định nguyên nhân cụ thể: việc nắm tình hình, khả năng đưa lực lượng vào đô thị, tổ chức hậu cần và mức độ sẵn sàng của cơ sở quần chúng. Những bài học ấy được sử dụng trong các đợt hoạt động tiếp theo.
Mậu Thân 1968 tạo bước ngoặt quan trọng, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh và chấp nhận đàm phán tại Paris. Dấu ấn của Hoàng Văn Thái nằm trong quá trình tổ chức một chiến trường rộng lớn thực hiện ý định chiến lược táo bạo. Ông không phải người duy nhất quyết định hay chỉ huy cuộc Tổng tiến công, nhưng với cương vị Tư lệnh Miền, ông giữ vai trò trọng yếu trong việc chuyển chủ trương thành kế hoạch và hoạt động của các lực lượng tại B2.



