Đại tướng Hoàng Văn Thái - Tổng Tham mưu trưởng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam

Đại tướng Hoàng Văn Thái - Tổng Tham mưu trưởng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam
Hoàng Văn Thái là một trong 34 đội viên đầu tiên của Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, được phân công phụ trách tình báo và kế hoạch tác chiến và cũng là Tổng Tham mưu trưởng đầu tiên của Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam.
Đại tướng Hoàng Văn Thái được đánh giá là một trong những vị tướng có ảnh hưởng quan trọng nhất trong việc hình thành và phát triển của QĐND Việt Nam, người có công lớn trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc.
“Ông là vị tướng trận mạc, sống nhân hậu, tình nghĩa được Quân đội ta và nhân dân ta mến phục”, đó là đánh giá của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về tướng Hoàng Văn Thái.
Tên thật là Hoàng Văn Xiêm, sinh năm 1915 trong một gia đình yêu nước ở xã Tây An, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, đồng chí Hoàng Văn Thái sớm giác ngộ, tham gia hoạt động cách mạng (1936) và trở thành một Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam lúc 23 tuổi. Năm 1940 ông bị thực dân Pháp bắt giam. Từ năm 1941-1945, trải qua cương vị chỉ huy Đội cứu quốc quân Bắc Sơn, Trưởng đoàn học viên Việt Nam tại Trường quân sự Liễu Châu (Trung Quốc), phụ trách công tác tình báo, tác chiến trong Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Hiệu trưởng Trường Quân chính kháng Nhật…, đồng chí Hoàng Văn Thái luôn kiên định, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, có năng lực tổ chức, giàu trí sáng tạo, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 7-9-1945, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao thành lập Bộ Tổng Tham mưu và là Tổng Tham mưu trưởng đầu tiên của QĐND Việt Nam, khi đó ông mới 30 tuổi. Trên cương vị này, ông đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng cơ quan tham mưu chiến lược của quân đội, ngành tham mưu toàn quân phát triển và dần hoàn thiện giúp Bộ Quốc phòng chỉ đạo tác chiến và xây dựng lực lượng ngày một trưởng thành. Những ý kiến chỉ đạo của ông đã góp phần quan trọng vào chiến thắng Hà Nội “60 ngày đêm khói lửa”.
Ngày 20-1-1948, Hoàng Văn Thái nhận quân hàm Thiếu tướng trong đợt phong quân hàm cấp tướng đầu tiên. Ông làm Tham mưu trưởng và là Đảng ủy viên các chiến dịch lớn có ý nghĩa lịch sử đối với sự trưởng thành, chiến thắng của quân đội như Chiến dịch Biên giới (1950), Trung du, Hoàng Hoa Thám, Hà Nam Ninh, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào.
Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ (13-3 đến 7-5-1954), bên cạnh Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng chiến dịch, trực tiếp chỉ huy công tác tham mưu - tác chiến tại mặt trận, góp phần quan trọng vào chiến thắng Điện Biên Phủ. Năm 1958, ông là Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn, kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Thể dục Thể thao nhà nước. Năm 1959, ông được phong hàm Trung tướng; từ 1961-1963 học tại Học viện Quân sự Cấp cao Bắc Kinh (Trung Quốc).
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, khi Mỹ đưa quân vào miền Nam, ông được giao nhiệm vụ vào truyền đạt Nghị quyết 12 của Trung ương Đảng (khóa III) cho lãnh đạo, chỉ huy miền Nam (2-1966), sau đó được chỉ định làm quyền Bí thư Khu ủy 5, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5 (7-1966).
Hoàng Văn Thái đã cùng các đồng chí khác lãnh đạo, chỉ đạo cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, đánh bại cuộc Hành quân Toàn thắng (1-1971), các cuộc hành quân Chenla I, Chenla II, Nguyễn Huệ, chiến dịch tiến công tổng hợp 1972. Sau Hiệp định Paris (1-1973), ông làm Phó tổng Tham mưu trưởng thứ nhất, phụ trách công tác tác chiến và chi viện chiến trường cùng Lê Trọng Tấn làm kế hoạch và chỉ đạo tổ trung tâm hoàn thành kế hoạch giải phóng miền Nam 1975-1976. Ông được phong hàm Thượng tướng năm 1974.
Hoàng Văn Thái cùng Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch tác chiến chiến lược, thực hiện các ý định, chủ trương của Bộ Chính trị, tạo thế và lực cho ta nắm thời cơ giành thắng lợi trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975.
Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, ông là Phó chủ tịch Thứ nhất Hội đồng chi viện cho chiến trường, Phó tổng Tham mưu trưởng thứ nhất. Trên thực tế ông đã đảm nhiệm vai trò Tổng Tham mưu trưởng lần thứ ba, thay cho đồng chí Văn Tiến Dũng bí mật vào Nam để trực tiếp chỉ huy chiến trường.
Từ 1974-1986, đồng chí Hoàng Văn Thái làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Phó tổng Tham mưu trưởng (1974-1981), Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương.
Năm 1980, ông được phong quân hàm Đại tướng.
Đại tướng Hoàng Văn Thái mất ngày 2-7-1986. Tên của ông được đặt cho nhiều đường, phố trong cả nước.
Đại tướng Hoàng Văn Thái là vị tướng trận mạc. Với kiến thức và tài năng hiếm có, đồng chí đã trở thành nhà chỉ đạo, chỉ huy quân sự xuất sắc, nhà tham mưu lão luyện của quân đội. Đồng chí rất coi trọng nhân tố chính trị, yếu tố nhân dân, là người tổ chức, chỉ huy đầu tiên của Bộ Tổng Tham mưu - cơ quan chiến lược của QĐND Việt Nam, xứng đáng là “người học trò ưu tú của Chủ tịch Hồ Chí Minh”...
Đồng chí Hoàng Văn Thái (tức Hoàng Văn Xiêm), sinh ngày 01/5/1915 trong một gia đình nông dân yêu nước, tại xã Tây An, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Đồng chí đã sớm giác ngộ cách mạng, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và tích cực xây dựng tổ chức đảng ở các tỉnh Thái Bình, Hà Bắc.
Ngày 22/12/1944, đồng chí Hoàng Văn Thái trở thành một trong số 34 đội viên đầu tiên của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, được phân công là người cầm lá cờ trong buổi lễ thành lập Đội. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ cho đồng chí Hoàng Văn Thái thành lập, xây dựng Bộ Tổng Tham mưu và giữ chức Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ngoài trọng trách Tổng tham mưu trưởng, đồng chí còn trực tiếp làm Tham mưu trưởng và Đảng ủy viên các chiến dịch lớn như: Biên Giới, Trung Du, Đường 18, Hà - Nam - Ninh, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, bên cạnh Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, đồng chí trực tiếp chỉ huy công tác tham mưu, tác chiến tại Mặt trận, góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954.
Khi đế quốc Mỹ đưa ồ ạt quân viễn chinh Mỹ và quân các nước đồng minh vào miền Nam, tháng 3/1966, đồng chí Hoàng Văn Thái nhận nhiệm vụ vào truyền đạt Nghị quyết 12 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá III cho các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy ở miền Nam. Sau đó, đồng chí được chỉ định làm Quyền Bí thư Khu ủy Khu 5, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5. Tháng 10/1967, để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân, đồng chí được cử vào Nam Bộ giữ chức Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam, Phó Bí thư Quân ủy Miền, Tư lệnh Bộ Chỉ huy Miền. Đồng chí đã cùng các đồng chí trong Trung ương Cục miền Nam, Quân ủy Miền và Bộ chỉ huy Miền lãnh đạo, chỉ đạo các đợt tiến công và nổi dậy Mậu Thân, các chiến dịch đánh bại cuộc hành quân Chen La I (tháng 6/1970), Toàn thắng (tháng 2/1971), Chen La II (tháng 8/1971), Chiến dịch tiến công tổng hợp Quân khu 8 (1972)… giành thắng lợi lớn.
Sau Hiệp định Pari được ký kết (tháng 1/1973), từ chiến trường miền Nam, đồng chí lại trở về Bộ Tổng tham mưu đảm nhiệm cương vị Phó Tổng Tham mưu trưởng thứ nhất, phụ trách tác chiến và chi viện chiến trường. Dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, đồng chí cùng các cán bộ phụ trách Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo cơ quan chuẩn bị các kế hoạch tác chiến chiến lược, góp phần thực hiện các ý định và chủ trương của Bộ Chính trị, tạo thế và tạo lực cho toàn quân, toàn dân ta nắm lấy thời cơ giành thắng lợi trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Sau khi đất nước được hoàn toàn giải phóng, đồng chí giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương); được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa III, IV, V, đại biểu Quốc hội khóa VII.
Với những cống hiến xuất sắc và phẩm chất trong sáng, đồng chí Hoàng Văn Thái đã được Đảng, Quốc hội, Nhà nước tặng thưởng: Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, hai Huân chương Quân công (hạng Nhất, hạng Nhì), Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất; ba Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng và nhiều phần thưởng cao quý khác.


