Đại Tướng Lê Đức Anh 1B2 - VCVB
Là nhà lãnh đạo , chỉ huy quân sự kiệt suất của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Ông trực tiếp chỉ huy ở những chiến trường khốc liệt nhất: Nam Bộ, Trị Thiên, Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia. Từng giữ chức Chủ tịch nước, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, ông là người học trò xuất sắc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Thời kỳ lịch sử:
1930 - 1945: Thời kỳ đấu tranh giành chính quyền
1945 - 1954: Kháng chiến chống Pháp
1954 - 1975: Kháng chiến chống Mỹ cứu nước
1975 - 1989: Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia
1989 - 2019: Thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
1. Tiểu sử và quá trình hoạt động cách mạng
Đại tướng Lê Đức Anh tên thật là Lê Văn Giác, sinh ngày 01/12/1920 tại xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Năm 1938, 18 tuổi ông tham gia cách mạng. Năm 1940 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.
Trải qua 2 cuộc kháng chiến, ông đã kinh qua hầu hết các chức vụ chỉ huy cao nhất từ cấp Trung đoàn đến Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
2. Người chỉ huy trên những chiến trường khốc liệt
Chiến trường Nam Bộ 1945 - 1975: Năm 1945, ông là Chính trị viên Chi đội 9, chỉ huy khởi nghĩa ở Huế. Năm 1948 vào Nam Bộ, liên tục chiến đấu ở chiến trường miền Đông Nam Bộ. Ông là người có công lớn trong việc xây dựng lực lượng vũ trang miền Đông trong kháng chiến chống Mỹ.
Chiến trường Trị - Thiên 1972: Ông là Tư lệnh chiến dịch Trị Thiên năm 1972. Trực tiếp chỉ huy bộ đội ta giải phóng tỉnh Quảng Trị, gây tiếng vang lớn, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán Paris.
Chiến trường Tây Nam và Campuchia 1977 - 1989: Giai đoạn khốc liệt nhất. Với cương vị Tư lệnh Quân khu 9, rồi Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia, ông trực tiếp chỉ huy quân ta đánh tan Khmer Đỏ, bảo vệ biên giới Tây Nam và giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng.
3. Trên cương vị lãnh đạo cao nhất
Năm 1986: Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Năm 1987 - 1991: Phó Bí thư Quân ủy Trung ương.
Năm 1992 - 1997: Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Trên cương vị nào ông cũng thể hiện bản lĩnh của một nhà quân sự kiên định, quyết đoán và giàu kinh nghiệm thực tiễn chiến trường.
4. Di sản và sự ghi nhận
Đại tướng Lê Đức Anh được Đảng, Nhà nước tặng thưởng: Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều huân, huy chương cao quý khác.
Ông mất ngày 22/04/2019. Cả cuộc đời ông gắn liền với súng đạn và chiến trường. Đồng đội gọi ông là "vị tướng trận mạc" vì ông luôn có mặt ở nơi khó khăn, ác liệt nhất.
Kết luận:
Cuộc đời 99 năm của Đại tướng Lê Đức Anh là tấm gương sáng về lòng trung thành, ý chí kiên cường và tài năng quân sự. Ông là minh chứng cho thế hệ "ra đi từ làng quê, trưởng thành trên chiến trường", góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bảo vệ Tổ Quôc .



