ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG - CHƯƠNG 10 PHẦN 1
Đại tướng Lê Đức Anh (1920–2019), bí danh Sáu Nam, là nhà lãnh đạo quân sự và chính trị cấp cao của Việt Nam, từng giữ chức Chủ tịch nước thứ 4 (1992–1997). Ông là vị tướng dày dạn trận mạc, có vai trò quyết định trong Chiến tranh biên giới Tây Nam và là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (1987-1991), người có công lớn trong bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ và đưa Việt Nam gia nhập ASEAN. Bài viết chia sẻ nội dung cuốn sách ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG Nhà xuất bản Chính trị Quốc g
Chương 10
LÀM NHIỆM VỤ QUỐC TẾ Ở CAMPUCHIASau một thời gian bị quân Pol Pot đánh sang biên giới nước ta, ta kiên trì thương lượng nhưng không được. Đến ngày 15-6-1978, Bộ Chính trị ta xác định: Tập đoàn Pol Pot - Ieng Sary là kẻ thù nguy hiểm có tội với đất nước Việt Nam và đất nước Campuchia. Lúc bấy giờ, Bộ Chính trị ta mới thành lập các ban phụ trách công tác Z1 để giúp Bộ Chính trị. Ban Công tác Z quân sự lấy bí danh là Ban 10, do đồng chí Thượng tướng Trần Văn Quang, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Tổng Tham mưu trưởng làm Trưởng ban. Ban Phụ trách công tác Z được thành lập một cơ quan giúp việc, với danh nghĩa là một đoàn, lấy phiên hiệu là Đoàn 478, gồm các cán bộ cao cấp, trung cấp phụ trách công tác tham mưu cho Bộ Chính trị và Bộ Quốc phòng về vấn đi Campuchia.Tiếp đó, Bộ Chính trị thành lập Ban Công tác Z Trung ương, lấy bí danh là B68, do đồng chí Nguyễn Xuân Hoàng, phó Viện trưởng Viện Khoa học quân sự Việt Nam làm Trưởng ban. Ngày 2-12-1978, Mặt trận đoàn kết cứu nước Campuchia do ông Heng Samrin (Hênh Xamrin) làm Chủ tịch đã ra mắt nhân dân.Trên cơ sở lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia do đồng chí Hun Sen tổ chức xây dựng, huấn luyện được 21 tiểu đoàn, trong hai ngày 6 và 7-12-1978, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương thông qua quyết tâm mở cuộc tổng phản công chiến lược đẩy quân địch ra khỏi tuyến biên giới Tây Nam; hỗ trợ các lực lượng vũ trang yêu nước và nhân dân Campuchia nổi dậy đánh đổ tập đoàn Pol Pot - Ieng Sary.Thực hiện quyết tâm trên đây, Bộ đã điều động ba quân đoàn (Quân đoàn 2, 3 và 4) và lực lượng chủ lực ba quân khu (Quân khu 5, 7 và 9) cùng với lực lượng của bạn mở cuộc tổng phản công vào ngày 26-12-1978. Được lệnh của Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng, đồng chí Lê Đức Thọ chỉ đạo, đồng chí Lê Trọng Tấn - Tổng Tham mưu trưởng - trực tiếp chỉ huy.Ngày 7-1-1979, ta và bạn đã giải phóng Phnom Penh. Ngày 8-1-1979, bạn công bố thành lập Hội đồng Nhân dân cách mạng Campuchia do đồng chí Heng Samrin làm Chủ tịch.Ngày 17-1-1979, ta và bạn chiếm lĩnh Angkor (Ăngco) và các thị xã trong cả nước Campuchia.Còn nhớ, vào thời điểm trước khi ta nổ súng tiến công giải phóng Campuchia, anh Chu Huy Mân - ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị vào gặp một số anh em cán bộ, sau đó anh nói với tôi:- Bây giờ ta đánh quân Pol Pot, giải phóng Campuchia, xong giao cho bạn. Ý anh thế nào?- Khi nào bạn đảm đương được thì giao cho bạn - Tôi nói.Anh Mân im lặng, không nói gì thêm.Tháng 1-1982, anh Lê Duẩn gặp tôi và anh Lê Trọng Tấn, có cả anh Phi Long - Cục phó Cục Tác chiến - tại nhà số 6 phố Hoàng Diệu, Hà Nội.Anh Duẩn hỏi:- Tình hình ta và bạn tại Campuchia thế nào? Bạn tự đảm đương được chưa? Ta rút quân về đồng bằng để làm ruộng được chưa?Tôi trả lời:- Thưa anh! Trước ngày nổ súng tiến công sang Campuchia, anh Mân vào trong ấy cũng nói với tôi là đánh giải phóng xong thì giao cho bạn rồi về. Tôi trả lời: Khi nào bạn đảm đương được thì giao cho bạn.Anh Duẩn nói:- Các anh bàn cho kỹ, giúp bạn phải khẩn trương để giao cho bạn càng sớm càng tốt.Tôi nói:- Nếu bây giờ ta rút về thì sẽ hỏng hai việc lớn.Anh Duẩn liền hỏi:- Hai việc gì? Anh cứ nói để ta bàn.- Báo cáo anh! Việc thứ nhất là, 10 vạn quân trở về chưa biết làm ruộng, không làm ra lương thực; việc thứ hai, nếu ta rút về thì Pol Pot sẽ quay lại thực hiện mưu đồ của nước ngoài tiếp tục đánh lại ta quyết liệt hơn. Nếu ta không đánh sang, cứ be bờ phòng thủ và tăng thêm quân cũng khó giữ được biên giới. Mà đã đánh, giải phóng, thì ta phải mất khoảng 10 năm để giúp bạn mạnh lên. Bạn có vững mới giữ được, lúc ấy ta về, không phải dai dẳng đương đầu với địch.Nghe tôi nói xong thì anh nói:- Vậy các anh về Bộ Tổng Tham mưu bàn lại cho kỹ để Bộ Chính trị quyết định.Khi đặt chân sang đất bạn, tôi thấy một kiểu trại tập trung thật kinh khủng. Cả đất nước, cả xã hội Campuchia tan nát, tiêu điều. Sau khi giải phóng, Phnom Penh như một thành phố ma. Nhiều nhà không có người ở. Đất nước Campuchia từ bao đời vẫn lấy đạo Phật làm quốc đạo, nhưng chùa chiền bị phá hủy, hầu hết thiết chế văn hóa và cơ sở hạ tầng xã hội bị phá nát, biến cả đất nước thành nhiều trại tập trung gọi là công xã, một xã hội không tín ngưỡng, không cúng bái thờ phụng, không họp chợ, không dịch vụ điện thoại, bưu điện, không tiêu tiền, không trường lớp học hành, con người không quê hương và gia đình. Hôn nhân thì tổ chức cưới tập thể do Angkar (Ăngca) gán ghép. Con người trở thành nô lệ, phải lao động khổ sai. Quyền cơ bản của con người bị tước đoạt. Những cuộc xua đuổi ly hương và những cuộc hành quyết diễn ra dồn dập và triền miên với kiểu giết người man rợ của bọn Pol Pot: đập vỡ đầu bằng lưỡi cuốc. Những hố chôn người tập thể, nhiều năm sau vẫn chưa khám phá hết. Mới hơn ba năm Pol Pot cầm quyền mà hàng triệu dân lành đã bị giết hại. Chúng đã tạo ra một không khí lo âu, sợ hãi để đi đến tâm lý tuyệt đối phục tùng vô điều kiện, biến đội quân trẻ mặc áo lính thành những kẻ chỉ làm theo lệnh trên là giết người.Khi quân ta đánh sang thì Angkar, cố vấn và quân đội của Pol Pot chạy lên biên giới Thái Lan và trốn vào rừng. Bộ đội ta cùng lực lượng vũ trang của bạn nhanh chóng giải phóng các công xã, cứu nhân dân.Bộ Tư lệnh tiền phương phân công bộ đội bảo vệ các thành phố, thị xã, quản lý khu Hoàng cung, quản lý Nhà vàng, Nhà bạc, bảo vệ đền Angkor Thom (Ăngco Thơm), đền Angkor Wat (Ăngco Vát) và các vùng trọng điểm, đồng thời tổ chức lực lượng truy kích địch. Còn tất cả tập trung cứu đói, cứu đau cho dân và giúp dân sản xuất.Hoàn thành nhiệm vụ được giao ở Campuchia, ngày 27-2-1979, Quân đoàn 2 có lệnh trở về nước nhận nhiệm vụ mới. Tiếp đó, đầu tháng 8-1979, toàn bộ đội hình Quân đoàn 3 rút quân về nước nhận nhiệm vụ bảo vệ các tỉnh biên giới phía Bắc Tổ quốc.



