ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG. CHƯƠNG 11 PHẦN 27
Đại tướng Lê Đức Anh (1920–2019), bí danh Sáu Nam, là nhà lãnh đạo quân sự và chính trị cấp cao của Việt Nam, từng giữ chức Chủ tịch nước thứ 4 (1992–1997). Ông là vị tướng dày dạn trận mạc, có vai trò quyết định trong Chiến tranh biên giới Tây Nam và là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (1987-1991), người có công lớn trong bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ và đưa Việt Nam gia nhập ASEAN. Bài viết chia sẻ nội dung cuốn sách ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG Nhà xuất bản Chính trị Quốc g
Chương 11 PHẦN 27
Từ năm 1998, tôi cùng với hai đồng chí Đỗ Mười và Võ Văn Kiệt được cử làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng cho đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng. Với trách nhiệm của mình, tôi cùng các đồng chí cố vấn tích cực tham gia góp ý kiến với Đảng và Ban Chấp hành Trung ương Đảng những vấn đề quan trọng về sự lãnh đạo của Đảng. Đại hội IX, khi bàn về xây dựng đảng cũng có nhiều ý kiến khác nhau, tôi đề nghị Điều lệ Đảng và bản chất của Đảng thì giữ nguyên như trước đây Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Đảng là đội tiền phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc". Tôi tin tưởng Đảng ta luôn nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước; bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ đất liền, vùng trời, vùng biển Tổ quốc.
Nghỉ việc nước, về với cuộc sống đời thường, tôi rất vui khi thấy đất nước ngày một đổi thay trên con đường đổi mới, hội nhập và phát triển. Đời sống nhân dân ngày càng ổn định, mức sống được nâng lên.
Cơ sở quan trọng để tôi dành tâm sức, trí tuệ cho sự nghiệp cách mạng là hậu phương gia đình ổn định; quê hương, dòng họ tiên tổ là gốc rễ; công lao cha mẹ sinh thành, anh em ruột thịt hòa thuận, đó là niềm tự hào, chắp cánh cho mọi quyết tâm, hoài bão trong tôi.
Về gia đình nhỏ của tôi, vợ trước là Phạm Thị Anh, sinh năm 1923, quê ở An Tây, Bến Cát, Bình Dương; là Thường vụ Hội Phụ nữ Khu Đông - Nam Bộ. Sau giải phóng miền Nam, Phạm Thị Anh làm cán bộ tổ chức tại Trường Cán bộ phụ nữ của Trung ương Hội mang tên Trường Lê Thị Riêng. Phạm Thị Anh có hơn 60 năm tuổi đảng, đã từ trần. Tình yêu đến với chúng tôi trong hoạt động cách mạng, đấu tranh chống thực dân Pháp trên chiến trường miền Đông Nam Bộ. Chúng tôi sinh được hai con gái. Con gái đầu sinh thiếu tháng, vừa sinh xong phải chạy giặc càn nên được hai ngày thì qua đời. Con gái thứ hai là Lê Xuân Hồng (Hồng chị) sinh năm 1951, là Tiến sĩ tâm lý học, nguyên là Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Sư phạm mẫu giáo Trung ương 3 (nay là Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương Thành phố Hồ Chí Minh), nay đã nghỉ hưu.
Vợ sau là Võ Thị Lê, sinh năm 1927, quê ở Quế Phong, Quế Sơn, Quảng Nam. Thời kháng chiến chống thực dân Pháp, vợ tôi ở trong Ban Chấp hành Hội Phụ nữ tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Gia Lai. Sau hòa bình, vợ tôi tập kết ra Bắc, được đi học và trở thành bác sĩ y khoa, công tác tại Bệnh viện Việt Xô Hà Nội, nay đã nghỉ hưu, 68 năm tuổi đảng (năm 2015). Với người chồng trước, vợ tôi có một con gái là Huỳnh Thị Lệ Hạnh, sinh năm 1950, là kỹ sư thông tin, cán bộ hàng không, nay đã nghỉ hưu. Chúng tôi sinh được hai con. Con trai đầu là Lê Mạnh Hà, sinh năm 1957, Tiến sĩ ngành thông tin viễn thông tại Liên Xô (trước đây) và là Thạc sĩ quản lý nhà nước chuyên về kinh tế vĩ mô học tại Đại học Harvard (Havớt), Mỹ; hiện nay làm Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ. Con gái Lê Xuân Hồng (Hồng em) sinh năm 1959, Cử nhân kinh tế, nguyên là cán bộ ngành hải quan Thành phố Hồ Chí Minh, nay đã nghỉ hưu. Các con tôi đã lập gia đình và nuôi dạy các cháu trưởng thành. Chúng tôi có sáu cháu và bốn chắt. Như vậy, gia đình tôi có đủ bốn thế hệ, như các cụ xưa từng nói là "tứ đại đồng đường" - quả là hạnh phúc.
Các con tôi đều là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Tôi rất vui khi thấy các con cháu sống xứng đáng với truyền thống gia đình, đang bước tiếp con đường cách mạng của Đảng, của Bác Hồ mà ông, cha của chúng đã chọn.



