ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG - CHƯƠNG 3 , PHẦN 1
Đại tướng Lê Đức Anh (1920–2019), bí danh Sáu Nam, là nhà lãnh đạo quân sự và chính trị cấp cao của Việt Nam, từng giữ chức Chủ tịch nước thứ 4 (1992–1997). Ông là vị tướng dày dạn trận mạc, có vai trò quyết định trong Chiến tranh biên giới Tây Nam và là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (1987-1991), người có công lớn trong bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ và đưa Việt Nam gia nhập ASEAN. Bài viết chia sẻ nội dung cuốn sách ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG Nhà xuất bản Chính trị Quốc g
Chương 3
VÀO QUÂN ĐỘI THAM GIA KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘCách mạng Tháng Tám thành công đã đưa Việt Nam bước sang một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc. Nhưng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới ra đời đã phải đối phó với tình thế vô cùng khó khăn, phức tạp, đó là âm mưu trở lại xâm lược của thực dân Pháp. Ngay từ ngày 2-9-1945, thực dân Pháp đã nổ súng ở Sài Gòn và đến đêm 22 rạng ngày 28-9-1945, chúng đánh úp trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ, mở đầu cuộc chiến tranh tái xâm lược Việt Nam.Giữa lúc tiếng súng còn đang nổ ran ở nhiều nơi trong thành phố, vào sáng sớm ngày 23-9-1945, Xứ ủy, Ủy ban nhân dân và Ủy ban kháng chiến Nam Bộ triệu tập cuộc họp liên tịch tại số nhà 629 đường Cây Mai (nay là đường Nguyễn Trãi, quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh). Hội nghị do đồng chí Trần Văn Giàu - Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Nam Bộ chủ trì, quyết định: vừa đánh điện báo cáo và xin chỉ thị của Trung ương, vừa phát động kháng chiến ngay lập tức.Tại Hà Nội, khi nhận được điện báo cáo, Trung ương nhất trí với quyết tâm của Xứ ủy, Ủy ban nhân dân Nam Bộ và hạ quyết tâm tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược kêu gọi nhân dân cả nước chi viện sức người, sức của cho nhân dân Nam Bộ. Thường vụ Trung ương Đảng quyết định thành lập những đơn vị Nam tiến chi viện cho chiến trường Nam Bộ.Ủy ban kháng chiến Nam Bộ xác định: Từ giờ phút này, nhiệm vụ hàng đầu là tiêu diệt giặc Pháp và tay sai của chúng. Tổng công đoàn Nam Bộ tổ chức các đội vũ trang công nhân. Lực lượng vũ trang công nhân có trên 6.000 người, đóng vai trò nòng cốt trong các lực lượng nội thành. Đội vũ trang của công nhân cao su do tôi phụ trách tuy gọi là trung đội, nhưng quân số có đến hơn 100 người, trong đó có trên 40 người là dân tộc Xtiêng có súng với cung nỏ khoác trên vai, bao tên đeo ngang hông, nên đồng bào gọi là "Đội quân áo nâu”, "Đội quân cung tên". Ủy ban kháng chiến Nam Bộ thành lập bốn mặt trận ở ngoại thành, bao quanh thành phố Sài Gòn, thực hiện chiến thuật “trong đánh ngoài vây".Tôi tổ chức một bộ phận có súng và cung nỏ, dao, mã tấu (từng đóng vai trò xung kích làm nên thắng lợi của cuộc khởi nghĩa giành chính quyền tại địa phương trước đó) kéo quân từ Lộc Ninh, Hớn Quản về tham gia chiến đấu tại mặt trận số 2 (còn gọi là mặt trận phía bắc).Các chiến sĩ trong "Đội quân áo nâu” đã chiến đấu kiên cường, góp phần đáng kể vào việc cầm chân địch suốt hơn một tháng, làm thất bại ý đồ "đánh nhanh thắng nhanh" của địch.Những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến, lực lượng vũ trang ở đây khá phức tạp, có nhiều thành phần. Một số tôn giáo, phe phái lại có lực lượng vũ trang riêng và một vài người cầm đầu các tổ chức này tìm cách khống chế được một số quần chúng, tuy nhiên qua một thời gian đấu tranh, họ đã bị sàng lọc.Trong khi đó, cơ quan lãnh đạo cách mạng ở Nam Bộ lúc này chưa có sự thống nhất. Hai nhóm "Tiền phong” và "Giải phóng” vẫn song song tồn tại trong Xứ ủy. Tình hình trên đặt ra cho cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Bộ hàng loạt nhiệm vụ cấp bách phải giải quyết để vượt qua khó khăn, trở ngại, tạo ra những bước đi căn bản, vững chắc bảo đảm đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi.Ngày 15-10-1945, Hội nghị cán bộ toàn xứ được triệu tập gồm các đồng chí đại diện cho Xứ ủy Tiền phong, Xứ ủy Giải phóng cũ, các đồng chí ở nhà tù Côn Đảo mới về. Tiếp đó, ngày 25 tháng 10, diễn ra Hội nghị Xứ ủy mở rộng tại Thiên Hộ (Cái Bè, Mỹ Tho). Hội nghị đã đề ra chủ trương về xây dựng, củng cố tổ chức đảng, tổ chức Việt Minh và các đoàn thể kháng chiến; phương hướng xây dựng, hoạt động của lực lượng vũ trang cách mạng.Tại các tỉnh, cấp ủy và chính quyền các cấp đều tổ chức các đội tự vệ chiến đấu và du kích. Một số nơi đã tổ chức các đơn vị vũ trang tập trung với quy mô từ một trung đội đến một đại đội. Những đơn vị này hoạt động rất tích cực và đều là những đơn vị tiền thân của các chi đội chủ lực sau này.Cùng sát cánh chiến đấu với các đội vũ trang của công đoàn, tự vệ, du kích và các đơn vị bộ đội nói trên còn có lực lượng “Quốc vệ đội" và “quốc gia tự vệ cuộc", tiền thân của lực lượng Công an nhân dân sau này. Tại tỉnh Thủ Dầu Một, lực lượng này do đồng chí Hồ Văn Nâu phụ trách. Những lực lượng kể trên là lực lượng vũ trang trung kiên do Đảng Cộng sản lãnh đạo, tuy buổi đầu còn nhỏ và yếu, vũ khí còn thiếu và thô sơ, nhưng cán bộ, chiến sĩ rất hăng hái.Sự đánh trả quyết liệt của các đơn vị trong nội đô Sài Gòn cùng với sự phối hợp bao vây của các đơn vị vũ trang ven đô và các tỉnh lân cận đã làm cho quân Pháp trong nội thành Sài Gòn gặp nhiều khó khăn, thiếu điện, nước, lương thực, thực phẩm, đi đến đâu cũng bị ta đánh chặn, đánh trả, phục kích. Ngày 23 tháng 10, Binh đoàn thiết giáp Massu (Mátxuy) đến miền Nam, Leclerc (Lơcle) quyết phá vỡ vòng vây xung quanh Sài Gòn và đánh nống ra. Quân Pháp dùng xe tăng và thiết giáp phá vỡ phòng tuyến tây nam Sài Gòn, theo đường 4 tiến công Tân An, Mỹ Tho. Quân Anh đánh chiếm Biên Hòa và Thủ Dầu Một rồi giao cho Pháp.Ngay từ ngày 24-9-1945, nhiều tỉnh Nam Bộ gửi các đơn vị vũ trang đến Sài Gòn và các tỉnh bao quanh Sài Gòn để tham gia chiến đấu. Đặc biệt, những đội quân các dân tộc thiểu số từ Biên Hòa đến Thủ Dầu Một, mặc trang phục dân tộc, sử dụng vũ khí truyền thống đã sát cánh cùng quân và dân Sài Gòn trên các mặt trận Thị Nghè, Cầu Bông,...Những ngày Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, nhiều thanh niên hăng hái xung phong vào đội vũ trang. Khi quân Pháp quay lại đánh phá ráo riết thì anh em trụ lại chiến đấu kiên cường và đều là những chiến sĩ trung kiên. Có nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm đã gây ấn tượng không thể phai mờ trong tâm khảm tôi. Chẳng hạn như ông Ba Đèn là một trong bốn công nhân cao su Lộc Ninh mà tôi giác ngộ và kết nạp Đảng đầu tiên. Ông hoạt động tích cực trong phong trào công nhân cao su trước và trong Cách mạng Tháng Tám. Khi Nam Bộ kháng chiến, cả hai bố con ông (ông và con trai) xung phong vào đội vũ trang cầm súng đánh quân Pháp xâm lược. Trong một trận chúng tôi đánh phục kích ở Lộc Ninh, ông Ba Đèn bị địch bắn què chân và bị bắt. Chúng hết tra tấn lại dụ dỗ, nhưng ông không chịu dụ người con trai trở về quy hàng. Cuối cùng, chúng mang ông ra bắn ngay tại sân đá banh Lộc Ninh. Hay như cậu Nghĩa, một thiếu niên mới 16 tuổi mà rất hăng hái tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền. Cậu là một trong những người đầu tiên đánh vào thị xã Hớn Quản. Khi vào tiếp quản quận đường, nhặt được sợi dây chuyền vàng, cậu đã mang lên nộp cho người chỉ huy.Tháng 10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh phái hai cán bộ cao cấp là Vũ Đức và Nguyễn Bình vào Nam Bộ. Ngày đầu vào Nam Bộ, đồng chí Vũ Đức xây dựng căn cứ ở Thuận Lợi. Theo yêu cầu của đồng chí Vũ Đức, tôi cho một lực lượng lên để bảo vệ Tổng hành dinh. Từ Sài Gòn, binh đoàn Leclerc tổ chức tiến công vào căn cứ Thuận Lợi. Chúng tôi được giao nhiệm vụ chặn địch ở cầu Phước Hòa. Ngày đầu, chúng tôi đánh lui nhiều đợt tiến công của địch, buộc chúng phải lui về phía sau củng cố lực lượng, ba ngày sau chúng mới dám tiến công trở lại. Đồng chí Vũ Đức rút về miền Tây.Anh Nguyễn Văn Hội và anh Lê Danh Cát được bổ sung vào tiểu đoàn của tôi. Tiểu đoàn dừng chân và hoạt động ở nam - bắc Bến Cát và Hớn Quản, do anh Nguyễn Văn Ngọ làm Tiểu đoàn trưởng, tôi làm Chính trị viên. Tiểu đoàn có ba đại đội. Đại đội ở bắc Bến Cát do anh Lê Danh Cát phụ trách. Đại đội ở nam Bến Cát do anh Ngọ phụ trách và đại đội ở Hớn Quản do tôi phụ trách. Tiểu đoàn của chúng tôi đứng chân trên địa bàn tỉnh Thủ Dầu Một, đặt dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Thủ Dầu Một nhưng được độc lập về hoạt động quân sự.Sau khi đồng chí Vũ Đức rút đi một thời gian thì đồng chí Nguyễn Bình vào lập tổng hành dinh ở Lạc An, Biên Hòa. Đồng chí Bình yêu cầu Tỉnh ủy Thủ Dầu Một cho đơn vị chúng tôi đưa quân về Lạc An để bảo vệ tổng hành dinh của ông. Theo sự phân công của Tỉnh ủy, tôi đưa đơn vị lên đóng quân ở Giáp Lạc và phái một trung đội tăng cường, có trung liên với đủ súng đạn đứng chân ở Thường Lang và giao cho anh Trần Quang Sang, Trung đội phó, phụ trách lực lượng này.Một hôm, khoảng gần 5 giờ chiều, quân Pháp tổ chức thành hai cánh, một cánh đi bằng tàu thủy, một cánh đi đường bộ tấn công vào tổng hành dinh của đồng chí Bình. Các anh Nguyễn Văn Hội, Lê Danh Cát và một số cán bộ của đơn vị Nam tiến trụ lại tổng hành dinh này. Bộ đội của anh Huỳnh Văn Nghệ chặn đánh quân Pháp một ngày ở Tân Uyên. Tôi tổ chức cho đơn vị đánh chặn địch một ngày ở Thường Lang để cho đồng chí Bình và cơ quan rút về Gia Định. Chúng tôi đánh chặn chúng tiếp một ngày nữa ở Lạc An để các cơ quan và công binh xưởng rút đi an toàn. Khoảng gần 10 ngày sau, khi đồng chí Bình chuyển về tới An Phú Xã thuộc tỉnh Gia Định, quân địch tới bao vây khóa chặt các hướng. Tới gần sáng hôm đó, tôi và anh Hội mới về Phú An Thôn, bụng đói, vừa mua được hai bát phở, chưa kịp ăn thì đã nghe tiếng súng nổ gần, chúng tôi chỉ huy quân ra đánh chặn quân Pháp ở cầu Ông Cộ sát Phú An Thôn, để đồng chí Bình rút qua xã An Thành, nam Bến Cát an toàn... Sau trận này, đồng chí Bình thưởng cho chúng tôi hai tờ giấy bạc 500 đồng tiền Đông Dương, tôi đưa cho cậu Liên quản lý bếp ăn để mua gạo cho bộ đội.Sau trận thoát hiểm này, đồng chí Nguyễn Bình rút xuống Đức Huệ và gọi tôi tới bảo đơn vị của tôi cùng đi với ông. Tôi nói Đức Huệ thuộc địa phận của tỉnh Chợ Lớn, đơn vị tôi được giao đảm nhiệm địa bàn Thủ Dầu Một, đề nghị đồng chí lấy bộ đội của Chợ Lớn hoặc Gia Định để bảo vệ sở chỉ huy. Ông đồng ý. Tôi báo cáo với Tỉnh ủy Thủ Dầu Một, một là để đơn vị tôi bảo vệ vùng Hớn Quản - Thủ Dầu Một, hai là để phát động, xây dựng phong trào cách mạng ở vùng cao su thì phải đánh vào thị trấn Hớn Quản. Tỉnh ủy đồng ý. Tôi kéo quân về vùng cao su Hớn Quản. Lúc này quân Pháp đã bình định hết cả vùng cao su và các địa bàn xung quanh.Trước tình hình đó, chúng tôi quyết tâm thực hiện một trận đánh vào quận lỵ Hớn Quản. Tôi tổ chức lực lượng thành hai mũi tiến công. Một mũi dùng lực lượng một trung đội do anh Trần Quang Sang, tức Trần Văn Phước phụ trách, đánh dọc theo đường xe lửa vào. Mũi thứ hai dùng lực lượng một đại đội thiếu do tôi chỉ huy, vận động dọc theo quốc lộ đánh thẳng vào trung tâm quận lỵ. Cậu Nghĩa, lính trinh sát dẫn đường (sau này Nghĩa đi trinh sát vũ trang để chuẩn bị xây dựng lại cơ sở cách mạng trong đồn điền cao su, cả tốp trinh sát bị địch phục kích bắn chết).Trận tập kích quận lỵ Hớn Quản thắng lợi. Quân địch phải co lại, không dám hành quân càn quét tràn lan như trước nữa. Chúng tôi tranh thủ tung người vào các vùng cao su để bắt liên lạc, gây dựng lại cơ sở cách mạng. Và ngay sau đó, ban liên lạc được tổ chức lại, hoạt động tích cực. Còn ở phía Lộc Ninh, tôi cử đồng chí Son vào bắt liên lạc với cơ sở cũ trong đồn điền cao su. Người đầu tiên mà Son gặp là Nguyễn Đức Nhuận. Anh Nhuận hoạt động tích cực trong phong trào công nhân cao su, sau này, trong một trận đánh, anh Nhuận bị giặc Pháp bắt và đưa đi mất tích. Mãi gần đây anh Thái Văn Sa mới tìm được căn cứ và làm các thủ tục đề nghị công nhận liệt sĩ cho anh Nhuận (anh Thái Văn Sa trước khi nghỉ hưu là Đại tá, Chánh án Tòa án quân sự Quân khu 7).Sau trận đánh quận lỵ Hớn Quản, tôi cho củng cố bộ đội, phái một trung đội về gây dựng phong trào du kích chiến tranh ở nông thôn, còn hai trung đội bố trí hoạt động ở đồn điền cao su trên địa bàn Hớn Quản và các trục giao thông. Anh Nguyễn Văn Tiết và anh Văn Công Khai thì ở lại vùng Lái Thiêu, Chơn Thành, thị xã Thủ Dầu Một gây dựng lại cơ sở cách mạng ở vùng ven thị xã để đánh địch. Sau trận đánh vào quận lỵ Hớn Quản thắng lợi, nhân dân phấn khởi và chúng tôi đã thực hiện được việc xây dựng lại các nghiệp đoàn cao su.Ngày 10-12-1945, Hội nghị Xứ ủy mở rộng ở Bình Hòa Nam (nay thuộc huyện Đức Huệ, tỉnh Long An) triển khai quyết định của Chính phủ Trung ương về việc chia Nam Bộ thành ba chiến khu (Chiến khu 7, Chiến khu 8 và Chiến khu 9) và việc cử Bộ Chỉ huy chiến khu (gọi tắt là Khu bộ).Đồng chí Nguyễn Bình là Khu bộ trưởng Khu 7. Lực lượng vũ trang của Nam Bộ từ các đơn vị tự vũ trang tiền thân đã tổ chức thành các chi đội. Mỗi chi đội đứng chân và hoạt động ở một tỉnh.Chi đội 1 đứng chân ở tỉnh Thủ Dầu Một. Chi đội có ba đại đội: Đại đội 1, Đại đội 2, Đại đội 3. Ba đại đội, nhưng quân số và tổ chức tương đương ba tiểu đoàn. Chi đội 1 ở tỉnh Thủ Dầu Một được hình thành khi quân xâm lược cơ bản chiếm đóng được các vùng thị xã, thị trấn, đường giao thông quan trọng và bắt đầu càn quét "bình định" vùng nông thôn, các đồn điền cao su rộng lớn của ta. Đơn vị hoạt động trên một chiến trường rộng trải dài từ Lái Thiêu đến các huyện Châu Thành, Tân Uyên, Bến Cát, Dầu Tiếng, Hớn Quản.Sau khi thống nhất lực lượng giải phóng quân, các cơ quan và Ban Chỉ huy Chi đội 1 đóng sở chỉ huy ở quận Lái Thiêu. Sang năm 1946, các chi đội của các tỉnh miền Đông và Tây Nam Bộ lần lượt được thành lập. Cả Nam Bộ có 25 chi đội. Chi đội 1 của Thủ Dầu Một là chi đội thành lập sớm nhất và cũng là chi đội mạnh với số lượng quân đông và nhiều súng đạn nhất.Đầu năm 1946, hai anh Văn Công Khai và Nguyễn Văn Tiết nói với tôi: Xứ ủy yêu cầu anh Nguyễn Khắc Cần về công tác ở Đài Phát thanh Nam Bộ. Tỉnh ủy đã nhất trí điều anh Lê Đức Anh làm Chính trị viên Chi đội 1 thay anh Cần.Tôi làm Chính trị viên Chi đội 1 được một thời gian, anh Huỳnh Kim Trương, Chi đội trưởng nói với tôi:- Đảng Cộng sản giải tán rồi, anh vận động cái gì?- Đảng Cộng sản không hề giải tán mà chỉ rút vào hoạt động bí mật thôi - Tôi trả lời.Anh Trương là đảng viên Đảng Dân chủ, hoạt động hăng hái, sau đó, anh bỏ Đảng Dân chủ, tự nguyện phấn đấu để gia nhập Đảng Cộng sản. Đến năm 1947, anh Huỳnh Kim Trương được kết nạp vào Đảng Cộng sản.Một thực tế không thể tránh khỏi là cuộc chiến đấu của nhân dân ta gặp nhiều khó khăn. Với lực lượng vũ trang còn non yếu, ta không ngăn được sức tiến công của một đội quân nhà nghề Pháp được trang bị đầy đủ vũ khí. Quân xâm lược chiếm đóng tất cả các thành phố, thị xã, đường giao thông quan trọng ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ và bắt đầu càn quét "bình định" vùng nông thôn Nam Bộ rộng lớn. Chính quyền và các đoàn thể của ta ở nhiều nơi bị tan vỡ. Bộ đội ta và lực lượng kháng chiến đang đứng trước tình hình hết sức khó khăn. Vũ khí, gạo, quần áo, thuốc men đều thiếu, nhất là ở miền Đông, có nơi bộ đội phải ăn cháo, ăn củ rừng.Chính trong những ngày gay go ác liệt này, các đơn vị vũ trang Nam Bộ đã xác định được phương hướng xây dựng, thống nhất củng cố và phát triển để có đủ sức chiến thắng kẻ thù xâm lược. Một hình thái chiến tranh nhân dân bắt đầu hình thành và phát triển.Ngày 6-3-1946, Hiệp định Sơ bộ giữa Pháp và Việt Nam được ký kết. Quân Pháp ra miền Bắc thay thế quân Tưởng Giới Thạch. Lực lượng của Pháp ở trong Nam giảm, tạo thêm điều kiện để Nam Bộ phát triển lực lượng cách mạng chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài.Mặc dù Hiệp định Sơ bộ đã được Chính phủ Pháp phê chuẩn, nhưng phe chủ chiến trong chính giới Pháp vẫn tìm cách phủ nhận và dựng lên cái gọi là "vấn đề Nam Kỳ" thực hiện âm mưu "chia để trị". Chúng tuyên bố "Hiệp định Sơ bộ không hề ràng buộc Nam Kỳ" và tách Nam Kỳ thành một "xứ tự trị"... Do đó, ở Nam Kỳ (và cả nam vĩ tuyến 16), Pháp vẫn tiếp tục thực hiện biện pháp quân sự tàn bạo để "bình định" nông thôn, tiêu diệt các lực lượng kháng chiến, thi hành thủ đoạn chính trị nham hiểm tách Nam Kỳ ra khỏi Việt Nam. Đến cuối tháng 3-1946, thực dân Pháp chiếm đóng gần như toàn bộ Nam Kỳ và cực Nam Trung Bộ.Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng (có cán bộ từ chiến trường Nam Bộ ra dự) vào cuối tháng 5-1946 đã phân tích âm mưu mở rộng chiến tranh của địch và nhấn mạnh "phải thống nhất chỉ huy", "giữ quyền chủ động tác chiến", “phát triển vũ trang tuyên truyền”, "quấy rối ở các thành phố".Tháng 3-1946, đồng chí Lê Duẩn nhân chuyến ra Bắc báo cáo tình hình, đã ghé qua miền Đông Nam Bộ. Đồng chí giao nhiệm vụ cho đồng chí Nguyễn Đức Thuận giữ trách nhiệm Bí thư Liên tỉnh ủy miền Đông Nam Bộ và cử đồng chí đi địa phương cùng các tỉnh ủy củng cố lại tổ chức. Ngay sau đó, tại Tỉnh ủy Thủ Dầu Một, đồng chí Nguyễn Đức Thuận đã triệu tập cuộc họp bất thường, các cán bộ chủ chốt của tỉnh đều tham gia họp. Được sự ủy nhiệm của đồng chí Lê Duẩn, đồng chí Nguyễn Đức Thuận đã chỉ định danh sách Tỉnh ủy Thủ Dầu Một gồm bảy đồng chí1. Đồng chí Nguyễn Văn Tiết được chỉ định làm Bí thư và đồng chí Văn Công Khai làm Phó Bí thư Tỉnh ủy.Giữa năm 1946, một tổn thất lớn của Đảng bộ Thủ Dầu Một là đồng chí Văn Công Khai, Bí thư Tỉnh ủy đầu tiên, người cán bộ lãnh đạo trung kiên lúc này đang là Phó Bí thư, Phó Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh đã anh dũng hy sinh.Giữa tháng 11-1946, tại chiến khu Đồng Tháp Mười, Hội nghị Xứ ủy Nam Bộ được tổ chức. Hội nghị đã quán triệt chỉ thị của Thường vụ Trung ương Đảng về kiện toàn Đảng bộ Nam Bộ, đề ra một số biện pháp nhằm củng cố tổ chức đảng các cấp, củng cố tổ chức Mặt trận Việt Minh, xác định quyền lãnh đạo trực tiếp và duy nhất của Đảng Cộng sản đối với cuộc kháng chiến trên cơ sở tập hợp sự đoàn kết, thống nhất các lực lượng chính trị, trong đó có Đảng Dân chủ.Hội nghị đã kiện toàn Ban Chấp hành lâm thời của Đảng bộ Nam Bộ gồm các đồng chí Nguyễn Văn Kỉnh, Hoàng Dư Khương, Phạm Hùng, Nguyễn Thị Thập, Ung Văn Khiêm, Hà Huy Giáp, Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Đức Thuận, Trần Văn Trà. Đồng chí Nguyễn Văn Kỉnh được cử làm Thường trực Xứ ủy (trong khi đồng chí Lê Duẩn còn đang công tác ngoài Bắc). Đến đây tình trạng phân biệt "Tiền phong" và "Giải phóng", "Việt Minh cũ” và "Việt Minh mới" trong Xứ ủy cũng như trong toàn Đảng bộ Nam Bộ đã được xóa bỏ, sự thống nhất về tổ chức lãnh đạo được xác lập.Hội nghị Xứ ủy đã đạt được một số vấn đề cơ bản và quan trọng là sự thống nhất về tư tưởng và tổ chức lãnh đạo của Đảng bộ Nam Bộ. Nhưng những vấn đề vừa hệ trọng, vừa cơ bản, vừa bức thiết là phương hướng, sách lược, chiến lược, phương châm lãnh đạo kháng chiến giành thắng lợi thì phải đến Hội nghị Xứ ủy mở rộng do đồng chí Lê Duẩn, sau khi từ Việt Bắc trở vào, triệu tập tháng 4-1947 tại Đồng Tháp Mười mới mở ra. Có tỉnh cử hai, ba người đi dự, tỉnh ít cũng một người. Tỉnh ủy Thủ Dầu Một cử tôi đi dự. Sài Gòn - Chợ Lớn có anh Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc), lãnh đạo phong trào thanh niên có anh Trần Bạch Đằng. Ngoài ra, tôi còn nhớ các anh Trần Văn Trà, Nguyễn Văn Vịnh, Phạm Hùng, Nguyễn Văn Kỉnh,... có tham dự. Anh Lê Duẩn phát biểu đã trình bày tất cả các vấn đề, lời lẽ khúc chiết, mạch lạc, vừa minh chứng bằng ví dụ cụ thể, vừa có tính khái quát, lý luận rành rẽ, chúng tôi nghe mà thấy sáng ra nhiều vấn đề. Hội nghị đã kiểm điểm ba tháng thực hiện tổng tấn công “quấy rối, phong tỏa, phá hoại" trên các chiến trường, hơn thế đã quán triệt đẩy đủ và sâu sắc đường lối kháng chiến "toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh" của Đảng; đề ra các biện pháp xây dựng, phát triển lực lượng quân sự mạnh trên cơ sở lực lượng chính trị rộng khắp. Đặc biệt, Hội nghị nhấn mạnh việc củng cố tổ chức cơ sở đảng từ Xứ ủy đến cơ sở. Tại Hội nghị này, Xứ ủy chính thức được thành lập, thay Xứ ủy lâm thời thành lập tháng 11-1946. Hội nghị nhất trí bầu đồng chí Lê Duẩn làm Bí thư Xứ ủy.



