Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG - CHƯƠNG 4, PHẦN 1

Đại tướng Lê Đức Anh (1920–2019), bí danh Sáu Nam, là nhà lãnh đạo quân sự và chính trị cấp cao của Việt Nam, từng giữ chức Chủ tịch nước thứ 4 (1992–1997). Ông là vị tướng dày dạn trận mạc, có vai trò quyết định trong Chiến tranh biên giới Tây Nam và là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (1987-1991), người có công lớn trong bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ và đưa Việt Nam gia nhập ASEAN. Bài viết chia sẻ nội dung cuốn sách ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG Nhà xuất bản Chính trị Quốc g

Quảng Ninh29/03/2026Bùi Thị Thùy Linh (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Tiên Yên)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chương 4VỀ BỘ TỔNG THAM MƯU, GÓP PHẦN XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂNTIẾN TỪNG BƯỚC LÊN CHÍNH QUY, HIỆN ĐẠISau khi Hiệp định Geneva được ký kết (tháng 7-1954), tâm trạng tôi vừa vui, vừa buồn, vui là miền Bắc đã được giải phóng khỏi ách đế quốc, buồn là miền Nam chưa được giải phóng.Giữa những ngày vui đón hòa bình của quân và dân trên cả nước, phần lớn những cán bộ quân đội chúng tôi ở Nam Bộ lại thấy băn khoăn, kém phấn khởi khi nhận được lệnh "Tập kết ra miền Bắc". Bộ Tư lệnh Nam Bộ chúng tôi lo sắp xếp lực lượng tập kết. Trước lúc tập kết, anh em cũng tâm tư dữ lắm. Biết bao xương máu, công lao của quân và dân suốt chín năm kháng chiến mới giành được những thành tựu, bây giờ lại giao cho đối phương và tay sai để ra đi thì tiếc lắm. Lúc đó, anh Lê Đức Thọ nói hai năm sẽ quay trở lại. Anh Lê Duẩn thì bảo hãy chôn giấu những khẩu súng tốt. Tay đào hố chôn súng mà lòng ấm ức, nói chung là không ai muốn chia tay với vùng đất quê hương thân thương để ra đi. Đến khi có thư của Bác Hồ thì anh em nghe, mọi người đều nghe.Chúng tôi tập trung học tập và chuẩn bị tập kết ở huyện Cái Bè, bên bờ kinh Nguyễn Văn Tiếp thuộc Đồng Tháp Mười, sau đó xuống tàu thủy ở bên sông Tiền. Khi chia tay, người đi ra Bắc, kẻ ở lại Nam thật là bịn rịn, khó nói nên lời. Nhiều người giơ hai ngón tay lên và hẹn nhau: Hai năm sẽ trở về!...Ngày đầu ra Bắc, tôi được giao làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn bộ binh 3301, anh Lê Văn Tưởng làm Chính ủy, sư đoàn đóng quân ở Thanh Hóa. Tháng 6-1955, tôi nhận quyết định về làm Cục phó Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu. Lãnh đạo Cục Tác chiến lúc đó có bốn người: anh Trần Văn Quang làm Cục trưởng, anh Đỗ Đức Kiên, anh Thái Dũng và tôi làm Cục phó. Anh Thái Dũng cùng một số anh em đang chỉ đạo trên công trường "hàn khẩu" đê Mai Lâm2.Để nhanh chóng hạn chế thiệt hại do bão lụt gây ra, kịp thời khôi phục sản xuất cho các địa phương, phục hồi hệ thống giao thông trong nước và quốc tế (sân bay Gia Lâm), theo đề xuất của Cục Tác chiến, Tổng Tham mưu trưởng đã ký quyết định điều động các đại đoàn 308, 312, 351 làm lực lượng chủ công trên công trường "hàn khẩu". Cán bộ chiến sĩ không quản trời nắng nóng như thiêu đốt, có lúc lại mưa rào như trút nước, đã suốt ngày đêm dầm mình dưới nước, nắm chắc tay nhau làm "đê người" chặn nước lũ để đồng đội đóng cọc, làm kè, đổ đất, đá hàn đê vỡ.Ngày 25-9-1955, một cơn bão lớn ập vào đất liền Hải Phòng. Nước biển dâng cao trên khắp các xã ven đê các huyện An Hải, Thủy Nguyên, Kiến Thụy (nay là Kiến An) gây tổn thất nặng nề về người và tài sản. Theo chỉ thị của Tổng Tham mưu trưởng, Cục Tác chiến đã xuống Khu Tả Ngạn trực tiếp chỉ đạo đơn vị xử lý, khắc phục hậu quả. Qua kinh nghiệm cứu đê ở Mai Lâm, Khu Tả Ngạn đã kịp thời huy động những đơn vị gần nhất, cấp tốc hành quân đến hiện trường cứu đê, cứu dân và tài sản.Những ngày đầu tôi dành thời gian tìm hiểu về Cục Tác chiến và cơ quan Bộ Tổng Tham mưu. Sau đó, anh Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng - trực tiếp giao nhiệm vụ cho tôi: nghiên cứu kế hoạch xây dựng công trình phòng thủ bờ biển từ Quảng Ninh đến Quảng Bình. Tôi đã nghiên cứu sơ bộ kế hoạch phòng thủ bờ biển từ Quảng Ninh vào đến Quảng Bình, dựa trên kế hoạch tác chiến cơ bản, xây dựng các công trình phòng thủ và các vùng trọng điểm của phòng thủ. Nhưng công trình phòng thủ thì chưa ai biết. Cục đề nghị Bộ Tổng Tham mưu cho một đoàn cán bộ sang nghiên cứu ở Trung Quốc, đề nghị bạn giúp một số nội dung về xây dựng công trình quốc phòng. Đề nghị được chấp nhận, Tổng Tham mưu trưởng trực tiếp cử một đoàn cán bộ của hai ngành tác chiến và công binh. Đoàn của Cục Tác chiến gồm: tôi, Trần Sơn Nham, Nông Cao Thắng, do tôi làm Trưởng đoàn, đồng chí Phan Hoàng - Cục trưởng Cục Công binh làm Phó đoàn và một số cán bộ công trình của Cục Công binh.Các cán bộ Cục Tác chiến có nhiệm vụ nghiên cứu những vấn đề chiến thuật, cách đánh đường hầm, nghiên cứu công tác kế hoạch xây dựng công trình quốc phòng quốc gia. Các cán bộ Cục Công binh chủ yếu nghiên cứu về thiết kế, kỹ thuật các loại công trình.Đoàn ở Bắc Kinh hơn một tháng, được một số cán bộ quân giải phóng Trung Quốc giới thiệu những vấn đề cơ bản về lý thuyết với các nội dung: công tác xem xét xác định công trình, xác định những vấn đề chiến thuật, vị trí đường hầm và cửa hầm, cách làm các kế hoạch, tổ chức thi công,... Đoàn cũng được đi Thượng Hải tìm hiểu về tình hình triển khai làm công trình của một quân khu, xem một số công trình tại thực địa đã xây dựng và đang xây dựng. Học tập cách thức thứ tự triển khai: trước hết là phải xác định được ý định chiến thuật, rồi xây dựng kế hoạch, tổ chức và điều khiển thi công. Tôi và anh Phan Hoàng đi xem một số sở chỉ huy quân khu. Anh Trần Sơn Nham và anh Nông Cao Thắng đi xem các công sự xây dựng phòng thủ bờ biển. Các cán bộ công trình đều đi cùng cả hai bộ phận. Chúng tôi còn được các đồng chí Trung Quốc đưa đi tham quan, khảo sát các công trình phòng thủ dọc bờ biển, những khu vực phòng thủ chung và những khu vực chống đổ bộ.Sau khi về nước, Đoàn họp nghiên cứu cách vận dụng vào địa hình Việt Nam và thống nhất báo cáo Bộ; sau đó, tổ chức phổ biến kinh nghiệm và hướng dẫn các quân khu xây dựng các công trình theo bản thiết kế phù hợp với cách đánh được Bộ phê duyệt. Triển khai tại địa bàn của quân khu nào thì lực lượng của quân khu đó kết hợp với lực lượng công binh của Bộ trực tiếp thi công.Bối cảnh chính trị lúc này rất khẩn trương, địch trắng trợn phá hoại Hiệp định Geneva. Ở miền Nam, Ngô Đình Diệm điên cuồng thực hiện chính sách chống cộng, hò hét "Bắc tiến! Lấp sông Bến Hải". Vì vậy, Cục Tác chiến một mặt đôn đốc xây dựng công trình phòng thủ ở các quân khu; mặt khác còn phải chỉ đạo xây dựng công trình ở căn cứ chiến lược và các công trình cho các cơ quan quan trọng và các công trình ở vùng biển đảo. Quân khu Tả Ngạn và Quân khu Hữu Ngạn đã triển khai khẩn trương, thực hiện nghiêm túc.Sau hai năm địch phá hoại Hiệp định Geneva, ráo riết thực hiện chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam, Mỹ - Diệm tiến hành các hoạt động phá hoại miền Bắc: thả biệt kích xuống Quảng Bình, Nghệ An và các tỉnh miền núi Tây Bắc, tiếp tục gây lại phỉ, thúc đẩy bọn phản động gây rối, bạo loạn. Trước tình hình đó, Cục Tác chiến được giao nhiệm vụ bổ sung, điều chỉnh kế hoạch tác chiến cho phù hợp với tình hình mới.Ngày 24-5-1956, đồng chí Cục trưởng đề xuất với Bộ cho tiếp tục nghiên cứu cụ thể thêm về các hướng tiến công chủ yếu của địch và đề nghị: công tác bảo đảm, sửa chữa nâng cấp đường bộ, mở vọng khẩu độ hệ đường sắt, sân bay, sở chỉ huy; các nội dung về thiết bị chiến trường chuẩn bị cho thời kỳ đầu chiến tranh,...Tới đầu năm 1957, cách mạng Việt Nam đã có những chuyển biến quan trọng trên cả hai miền Nam - Bắc. Ở miền Bắc, chúng ta đã hoàn thành cơ bản kế hoạch khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh. Công tác sửa sai trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức đã đạt kết quá tốt. Tình hình xã hội và đời sống nhân dân ổn định.Sự nghiệp quốc phòng an ninh được củng cố. Quân và dân miền Bắc đang tích cực triển khai kế hoạch ba năm (1958- 1960) cải tạo kinh tế, phát triển văn hóa.Tình hình trên đòi hỏi quân đội phải được tiếp tục xây dựng theo hướng chính quy, hiện đại; tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân đội, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ miền Bắc và chi viện chiến trường miền Nam.Tháng 3-1957, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) họp Hội nghị lần thứ 12 (mở rộng), ra nghị quyết về xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng. Trung ương Đảng chỉ rõ: tích cực xây dựng quân đội nhân dân hùng mạnh tiến dần từng bước lên chính quy và hiện đại. Phải làm cho quân đội ta có lực lượng thường trực mạnh và lực lượng hậu bị mạnh. Phải nhận rõ khả năng và khó khăn của quân đội ta, của nền kinh tế ta để tiến dần từng bước vững chắc3.Tháng 5-1957, tôi được điều sang làm Cục phó Cục Quân lực; anh Toàn Sâm làm Cục trưởng. Tôi thấy anh Sâm là người làm việc rất cẩn trọng, tỉ mỉ. Mọi việc anh thường bàn kỹ với các đồng chí cục phó rồi mới báo cáo lên trên. Thời điểm này, việc sắp xếp những đơn vị chuyển từ nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu sang làm nhiệm vụ kinh tế đã ổn, giờ chỉ đi sâu nghiên cứu về biên chế theo hướng "xây dựng quân đội chính quy, hiện đại", trước hết và chủ yếu là các đơn vị ở miền Bắc. Quan điểm của anh Sâm là biên chế gọn, làm được việc. Anh tính biểu biên chế cho từng quân khu, từng nhà trường rất "chặt", tính toán đến từng người một, lên biểu biên chế, đồng thời xác định rõ chức trách, nhiệm vụ. Có nơi, có những vấn đề phức tạp (chẳng hạn như Trường Cán bộ trung cao) phải tổ chức hội thảo, từ đó điều chỉnh lại biểu biên chế cho phù hợp. Qua những việc làm cụ thể về biểu biên chế này, tôi hiểu rõ được một điều là khi xây dựng một tổ chức thì không thể áng chừng, mà phải từ chức trách, nhiệm vụ, từ đó xác định chức danh rồi mới bố trí từng người cụ thể vào các vị trí thích hợp để mọi cá nhân, mọi tổ chức đều phát huy được hết phẩm chất và năng lực của mình cho sự nghiệp chung. Đây là một công việc mang tính khoa học.Về công tác ở cơ quan Bộ Tổng Tham mưu, qua tiếp xúc và làm việc với chỉ huy và cán bộ, tôi học hỏi được nhiều điều bổ ích. Anh Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng - là người làm việc rất nghiêm túc. Khi nhận lệnh cấp trên về là anh tổ chức triển khai và kiểm tra đến nơi đến chốn. Anh Hoàng Văn Thái - Phó Tổng Tham mưu trưởng - là người giản dị, rất dễ gần. Tổng Tham mưu trưởng trực tiếp nắm công tác cán bộ, nắm về trang bị và công tác huấn luyện; tôi thấy cơ chế này là hợp lý. Anh Hồng Long phụ trách Cục Cán bộ là một người rất khách quan trong công việc. Cơ quan Bộ Tổng Tham mưu lúc đó ít người, Cục Tác chiến có 40 người, Cục Quân lực cũng chỉ xấp xỉ 50 người, Cục Tình báo cũng vậy. Ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm, cấp trên nói là cấp dưới làm y lệnh; phê phán, khen chê nhau cũng đều rất thực lòng, không một ai nói khác sự thật, mọi người sống với nhau thân ái và thẳng thắn. Bởi vậy, cơ quan Bộ Tổng Tham mưu ít người mà làm việc rất hiệu quả.Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 12 (mở rộng) chính thức phê chuẩn kế hoạch xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng 5 năm (1955-1959). Quán triệt Nghị quyết 12 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và sự chỉ đạo của Tổng Quân ủy, Tổng Tham mưu trưởng giao cho Cục Quân lực chủ trì đề án điều chỉnh xây dựng quân đội giai đoạn 1956-1960. Ngày 21-2-1958, đề án đã hoàn thành và được Bộ Chính trị thông qua.Bước vào thực hiện kế hoạch, Bộ Tổng Tham mưu rất coi trọng công tác chấn chỉnh biên chế. Tổng Tham mưu trưởng trực tiếp chỉ đạo Cục Quân lực, Cục Cán bộ của Bộ Tổng Tham mưu; Cục Động viên - dân quân tích cực khảo sát tình hình các đơn vị, cơ quan trong toàn quân để lập kế hoạch chỉnh biên năm 1958. Ngày 24-2-1958, kế hoạch chỉnh biên được hoàn chỉnh.Sau khi hoàn chỉnh kế hoạch, đầu tháng 3-1958, Bộ Tổng Tham mưu ra Chỉ thị số 258.TV về công tác chỉnh biên năm 1958 trong toàn quân. Tiếp đó, ngày 21-3-1958, Bộ Quốc phòng ra quyết định về tổ chức biên chế, trang bị của các đơn vị binh chủng lục quân và những đơn vị đầu tiên của không quân, hải quân.Tháng 7-1958, Cục Quân lực đã cùng các cơ quan có liên quan thực hiện chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu hoàn chỉnh đề án chỉnh biên cơ sở. Yêu cầu chỉnh biên phải tạo cơ sở vật chất (kho, xưởng, bệnh viện) có biên chế tổ chức phù hợp với nhu cầu quân đội ngày càng tiến lên chính quy, hiện đại cả thời bình và thời chiến.Ngày 20-10-1958, Bộ Tổng Tham mưu ra chỉ thị chỉnh biên cơ quan tỉnh đội, thành đội, huyện đội, châu đội, quy định cụ thể tổ chức cơ quan quân sự địa phương.Ngày 20-12-1958, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định phong quân hàm cấp Đại tá cho tôi. Đây là lần đầu tiên tôi được phong quân hàm sĩ quan.---------------------------------------------------------------1. Đơn vị ở Nam Bộ tập kết ra miền Bắc được thành lập năm 1955 tại Thanh Hóa.2. Hè năm 1955, đê Mai Lâm Đông Anh Hà Nội bị vỡ, nước lũ tràn ngập cánh đồng lúa các huyện Đông Anh, Gia Lâm, một số huyện của Bắc Ninh đến giáp sông Cầu, một phần các huyện của tỉnh Vĩnh Phúc. Anh Thái Dũng lúc đó làm Tham mưu phó Ban Chỉ huy công trường.3.Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.18, tr.287.Đầu năm 1959, anh Trần Sâm - Cục trưởng - được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, tôi thay anh Trần Sâm phụ trách Cục. Đến ngày 28-8-1961, tôi được Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm giữ chức Cục trưởng Cục Quân lực, đồng chí Văn Giang và đồng chí Trần Văn Bành được bổ nhiệm làm Cục phó.Ở miền Nam, Mỹ - Diệm đã công khai xé bỏ Hiệp định Geneva, thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng, lực lượng kháng chiến. Mỹ - Diệm thực thi chính sách "tố cộng", "diệt cộng", khủng bố dã man đồng chí, đồng bào ta, công khai bắn giết những người yêu nước.Lúc này, trong lãnh đạo Đảng ta có ba ý kiến khác nhau: Một là, đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang để hạn chế việc bắn giết của Mỹ - Diệm đưa cách mạng tiến lên. Hai là, đồng ý với ý kiến thứ nhất, nhưng hết sức hạn chế đấu tranh vũ trang (quy mô từng tổ, từng đội thôi). Ba là, phải bảo vệ miền Bắc và miền Nam không đấu tranh vũ trang. Đến cuối năm 1959 mới đi đến thống nhất cơ bản. Tháng 1-1959, Hội nghị lần thứ 15 (mở rộng) Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp xác định nhiệm vụ của cách mạng miền Nam, mối quan hệ giữa cách mạng hai miền Nam - Bắc. Đến giữa năm 1959, Hội nghị Trung ương 15 (lần thứ hai) đã ra nghị quyết nêu rõ: Nhiệm vụ của cách mạng quốc phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất độc lập dân chủ và giàu mạnh. "Nghị quyết 15 của Trung ương khóa II là sản phẩm trí tuệ của toàn Đảng, của tập thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị khóa II, xuất phát từ những định hướng chiến lược đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ tháng 7-1954 khi hòa bình vừa mới lập lại trên một nửa đất nước, có sự trực tiếp chỉ đạo công phu của đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất lúc bấy giờ, cùng một số đồng chí trong Bộ Chính trị và Trung ương. Nghị quyết phản ánh đúng nguyện vọng của đồng bào, đồng chí ở miền Nam nước ta lúc đó4.Hội nghị lần thứ 15 (mở rộng) Ban Chấp hành Trung ương Đảng chỉ ra con đường phát triển của cách mạng miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Nghị quyết 15 đã khẳng định dứt khoát phương thức đấu tranh cách mạng ở miền Nam là dùng bạo lực cách mạng để đập tan bạo lực phản cách mạng, mà lúc này lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang đánh đổ ách thống trị của đế quốc, phong kiến dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân.Tôi được biết thời điểm đó đi lại, thông tin rất khó khăn, nên Nghị quyết là của Trung ương vào đến các tỉnh, thành phố ở miền Nam không cùng một thời gian, nhưng đến đâu cũng được cán bộ, đảng viên và nhân dân khát khao đón nhận. Những tâm tư, thắc mắc, lo âu, cùng với niềm mong đợi của quần chúng bị dồn nén hơn bốn năm nay đã được giải tỏa. Lúc đó, cán bộ, đảng viên đều nói với nhau "Đảng đã cho đánh rồi!". Nghị quyết 15 đã thực sự thổi bùng ngọn lửa cách mạng âm ỉ lâu nay thành những đám cháy lan tỏa khắp các vùng nông thôn, thành thị và miền núi. Khí thế đấu tranh của quần chúng sục sôi. Hoạt động vũ trang phát triển rộng khắp đã hỗ trợ tích cực cho phong trào đấu tranh chính trị, mà trước đó luôn bị động trước sự khủng bố dã man của quân thù.Có thể nói, với cuộc Đồng khởi của nhân dân miền Nam nổ ra cuối năm 1959 và suốt cả năm 1960, quần chúng đã làm chủ ở cơ sở với nhiều mức độ khác nhau. Từ kết quả của cuộc đồng khởi này, cục diện của toàn miền Nam bắt đầu có sự thay đổi. Một số vùng nhân dân đã vùng lên, phá đồn bốt, phá thế kìm kẹp, phá ấp chiến lược, trở về làng cũ, tổ chức tự quản, trong đó nhiều làng trở thành làng kháng chiến, có khả năng chống chọi với những lực lượng càn quét của quân đội Sài Gòn. Khi lực lượng cách mạng đã nổi dậy ở khắp nơi, đứng trước nguy cơ sụp đổ, chính quyền Ngô Đình Diệm đã đối phó bằng nhiều biện pháp khác nhau, trong đó có việc thay đổi hệ thống hành chính, bãi bỏ hệ thống các quân khu, chia toàn bộ miền Nam thành các "vùng chiến thuật" do các tướng quân đội cầm đầu, kiêm cả hành chính và quân sự.Từ năm 1961, Mỹ đã phải tính đến những giải pháp mới để giúp cho Ngô Đình Diệm trụ vững, bằng cách tăng cường cố vấn Mỹ cho quân đội Sài Gòn. Trong năm 1961, số cố vấn Mỹ đã tăng từ 600 người lên 15.000 người. Cùng với sự gia tăng đội ngũ cố vấn là sự viện trợ ào ạt cho quân đội Sài Gòn về các phương tiện chiến tranh, đặc biệt là máy bay oanh tạc, máy bay trực thăng, xe tăng và thiết giáp để có thể tấn công ồ ạt và chớp nhoáng vào bất cứ địa điểm nào, nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng, xóa những căn cứ kháng chiến. Từ đây, chiến thuật "Trực thăng vận" và "Thiết xa vận" đã chính thức ra đời.Trên tất cả các vùng, Mỹ - Diệm thiết lập thêm hàng nghìn đồn bốt, tạo ra một hệ thống kiểm soát dày đặc; quân đội được tăng cường lên gấp hai, ba lần (từ 10 vạn quân năm 1960 lên 36 vạn quân năm 1962). Quân đội Sài Gòn đã tiến hành hàng loạt trận càn quét liên tiếp và tàn khốc. Ngoài phạm vi các cấp chiến lược và đồn bốt, Mỹ cho tiến hành rai chất độc hóa học để hủy diệt cuộc sống ở các vùng căn cứ kháng chiến của nhân dân ta...Âm mưu trước sau như một của Mỹ - Diệm là củng cố và giữ vững miền Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, đồng thời lôi kéo miền Nam vào Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (khối quân sự SEATO) để chống lại miền Bắc và hệ thống xã hội chủ nghĩa, chống lại phong trào cách mạng ở khu vực Đông Nam Á.Để đối phó với âm mưu của địch, phong trào cách mạng miền Nam đã phát huy được ưu thế về chính trị của mình, khoét sâu chỗ yếu về chính tả của địch, động viên đông đảo quần chúng tham gia đấu tranh với quy mô ngày một rộng lớn.Sau khi có Nghị quyết 15, việc triển khai thực hiện nghị quyết rất khẩn trương, hiệu quả đã tạo nên một bầu không khí phấn khởi, tin tưởng của đồng bào và chiến sĩ cả nước.Tháng 9-1960, Đảng ta họp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, đã hoàn chỉnh đường lối nhiệm vụ cách mạng chung cả nước, đường lối nhiệm vụ cách mạng của từng miền. Trong đó xác định rõ cả nước tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, khẳng định nhiệm vụ cơ bản là "giải phóng miền Nam".Trên cơ sở Nghị quyết Trung ương 15 (khóa II), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III và các nghị quyết của Trung ương sau đó, nhất là Nghị quyết Trung ương 9 (khóa III) tháng 12-1963, đồng bào, chiến sĩ cả nước nhanh chóng triển khai thực hiện, tạo nên sức mạnh mới tiến công kẻ thù trên tất cả các mặt trận, đẩy Mỹ và chính quyền tay sai ngày càng lâm vào thế bị động.Bộ Chính trị chủ trương nhanh chóng đẩy mạnh việc xây dựng lực lượng vũ trang và mở rộng căn cứ địa để đáp ứng yêu cầu phương châm đấu tranh quân sự - chính trị song song; quyết định nhiều biện pháp tăng cường sự chỉ đạo của Trung ương đối với cách mạng miền Nam như: giao cho Quân ủy Trung ương và Ban Thống nhất Trung ương chỉ đạo công tác quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam, tăng cường cơ quan Trung ương Cục và các khu ủy, tổ chức lại các chiến trường (thành lập các quân khu: 1 (K 7); 2 (K8); 3 (K9), 6, Sài Gòn - Gia Định, và 10,...); mở rộng giao thông liên lạc, tăng cường đào tạo cán bộ và tăng cường tiếp tế vận chuyển phương tiện, vũ khí, tài chính cho miền Nam,... Do đó, ta đã chủ động nhiều mặt từ trước khi địch triển khai kế hoạch Staley –Taylor (Stalây Taylo) mở đầu "Chiến tranh đặc biệt".Lúc đầu Mỹ dự tính chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" sẽ hoàn thành trong 18 tháng (từ tháng 6-1961 đến tháng 12-1962) bằng "kế hoạch Staley-Taylor" với ba biện pháp chiến lược:- Tăng cường quân đội Sài Gòn dùng "Trực thăng vận" và "Thiết xa vận" đè bẹp lực lượng vũ trang ta.- Giữ vững thành thị, bình định nông thôn chủ yếu bằng thiết lập hơn một vạn ấp chiến lược để dập tắt phong trào quần chúng.- Bịt chặt giới tuyến, biên giới, ven biển để cô lập cách mạng miền Nam.Mỹ tăng cường cố vấn và bắt đầu đưa lực lượng yểm trợ Mỹ vào miền Nam (từ 2.000 người năm 1960 lên 16.000 người năm 1963, tăng gấp 8 lần); tăng cường viện trợ để thực hiện bằng được "Chiến tranh đặc biệt" (từ 321 triệu USD tài khóa 1960-1961 lên 675 triệu USD tài khóa 1963-1964). Tháng 1-1962, Mỹ chính thức thành lập Bộ Tư lệnh quân sự Mỹ ở miền Nam Việt Nam.Đối với miền Bắc, Mỹ tăng cường các hoạt động biệt kích phá hoại. Đối với Lào, Mỹ gây "Chiến tranh đặc biệt" hòng đưa chiến tranh xâm lược đến sát phía tây miền Bắc Việt Nam. Đối với Campuchia, Mỹ tiếp tục vừa đe dọa, vừa tranh thủ hòng cô lập cách mạng miền Nam nước ta.Dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, năm 1962 trên các chiến trường, quân và dân ta đã giành thắng lợi lớn, nhưng nhiều nơi bộ đội và nhân dân còn lúng túng, khó khăn trước các phương tiện chiến tranh hiện đại và chiến thuật "Trực thăng vận", "Thiết xa vận" của địch.Ở Lào, bạn và ta đã chiến thắng trong chiến dịch Nậm Thà và giải phóng cả vùng Thượng Lào. Ở Campuchia, tháng 7-1962, ta đặt đại diện thương mại ở Phnom Penh (Phnôm Pênh), thực chất là một đầu mối hậu cần chiến lược để hợp pháp hóa đường vận tải biển qua cảng Sihanoukville (Xihanúcvin) sang căn cứ của Miền (B2).Tình hình quốc tế lúc này phức tạp hơn. Hệ thống xã hội chủ nghĩa ngày càng lớn mạnh, nhưng mâu thuẫn Xô - Trung ngày càng gay gắt. Chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh và tả khuynh trong phong trào cộng sản quốc tế bộc lộ ngày càng rõ gây thêm khó khăn cho cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của ta.--------------------------------------------------------------4. Thông báo số 83-TB/TW ngày 24-7-1997 về các kết luận Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, Cục Lưu trữ, Văn phòng Trung ương Đảng.Tháng 12-1962, Bộ Chính trị kiểm điểm tình hình và đề ta chủ trương mới; khẳng định phương châm hoạt động ba vùng, kết hợp đấu tranh vũ trang - chính trị và nhấn mạnh yêu cầu mới là phải tổ chức thành từng đợt hoạt động phối hợp chủ lực - địa phương - du kích - đặc công cùng nhân dân phá ấp chiến lược trên từng mang, từng vùng, tiến tới tổ chức thành tác chiến dịch.Tháng 1-1963, chiến thắng Ấp Bắc (Phú Tân, Cai Lậy, Mỹ Tho) đã khẳng định hai vấn đề lớn có ý nghĩa chiến lược lúc bấy giờ: một là, báo hiệu khả năng ta đánh thắng chiến thuật "Trực thăng vận" và "Thiết xa vận" của địch; hai là, nêu bật sức mạnh to lớn khi kết hợp giữa lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang ngay trong trận chiến đấu.Cao trào "Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công" trong năm 1963 đã đưa cuộc đấu tranh toàn diện trên toàn miền lên một bước mới. Trên khắp các chiến trường, ta liên tiếp mở các đợt phá "ấp chiến lược"; phong trào chiến tranh du kích phát triển sâu rộng; những trận đánh quy mô tiểu đoàn ngày càng nhiều, phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng ở cố nông thôn và thành thị lên cao.Thắng lợi to lớn bước đầu của ta và thất bại của địch đã chấn động mạnh mẽ đến toàn bộ chính quyền Sài Gòn và cả chính quyền Mỹ, xuất hiện ngày càng nhiều và ngày càng gay gắt mâu thuẫn ngay trong nội bộ chúng (trong quân đội chính quyền Sài Gòn; giữa chính quyền tay sai Sài Gòn với Mỹ và ngay trong chính giới Mỹ). Những mâu thuẫn trong nội bộ của chúng gay gắt đến mức đế quốc Mỹ phải thay ngay chính bọn tay sai trung thành nhất với chúng là Diệm - Nhu (tháng 11-1963), mở đầu một giai đoạn mới của cuộc khủng hoảng chiến lược của Mỹ - chính quyền tay sai Sài Gòn - khủng hoảng của chính sách thực dân mới của đế quốc Mỹ ở miền Nam - bắt đầu từ năm 1959 khi cao trào Đồng khởi của nhân dân ta ở miền Nam nổ ra5.Từ sau Nghị quyết 15 (khóa II), đến Nghị quyết 9 (khóa III), một lần nữa Trung ương Đảng đã bàn bạc và quyết định những chủ trương mới thuộc về đường lối cách mạng miền Nam trước tình hình mới của miền Nam.Trung ương dự kiến con đường tiến lên của cách mạng là phát triển theo hướng giành thắng lợi từng phần, đẩy lùi địch từng bước, tiến tới tổng công kích, tổng khởi nghĩa, nhưng cũng có thể thông qua một bước quá độ trước khi thắng lợi hoàn toàn.Về phương châm đấu tranh, Trung ương Đảng khẳng định đấu tranh chính trị đi đôi với đấu tranh vũ trang, xác định đấu tranh chính trị đóng vai trò rất cơ bản và rất quyết liệt đấu tranh vũ trang đóng vai trò quyết định trực tiếp, đấu tranh vũ trang phải tuân theo quy luật của chiến tranh, là phải tiêu diệt sinh lực địch trong chiến đấu và chiến dịch. Về phương châm chiến lược ba vùng, Trung ương khẳng định vận dụng phương châm đấu tranh ở từng vùng: rừng núi, đồng bằng, đô thị (như Nghị quyết Bộ Chính trị tháng l-1961 nhấn mạnh kiên quyết không cho địch phân vùng, phân tuyến).Trung ương cũng xác định phương châm đánh địch bằng ba mũi: chính trị - quân sự - binh vận và nêu bật tầm quan trọng chiến lược của công tác binh vận.Trung ương nêu rõ: phải nắm vững phương châm trường kỳ, gian khổ, tự lực cánh sinh, nhưng phải biết tranh thủ thời cơ để giành thắng lợi trong thời gian tương đối ngắn.Hội nghị Trung ương 9 nhấn mạnh điểm quan trọng trước mắt là phải tăng cường lực lượng vũ trang: điểm mấu chốt hiện nay là toàn Đảng, toàn dân phải có một sự nỗ lực tột bậc để nhanh chóng tăng cường lực lượng quân sự; quyết định đưa chủ lực vào miền Nam và đưa một đồng chí ủy viên Bộ Chính trị vào trực tiếp lãnh đạo cách mạng miền Nam.Đối với miền Bắc, Bộ Chính trị và Trung ương nhấn mạnh việc động viên, giáo dục trách nhiệm đối với cách mạng miền Nam, đồng thời phải cảnh giác và sẵn sàng đối phó với những âm mưu mới của địch tăng cường phá hoại miền Bắc.Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ chín là một văn kiện hết sức quan trọng của Đảng đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, nhất là đối với cuộc đấu tranh của nhân dân ta ở miền Nam. Nghị quyết 9 đã kịp thời bổ sung và hoàn chỉnh thêm đường lối cách mạng và đường lối chiến tranh cách mạng ở miền Nam, trực tiếp chỉ đạo đánh bại chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ ở miền Nam.Nhớ lại những ngày chuẩn bị tập kết ra Bắc, khi anh Lê Duẩn nói súng tốt thì giữ lại, máy tốt của công binh xưởng cũng giữ lại và hãy chôn giấu đi, quyết định này được anh em thực hiện tích cực. Rồi khi sắp xếp người đi, người ở, Trung ương quyết định anh Lê Duẩn ở lại. Anh Lê Duẩn cùng các anh ở lại đã đi khảo sát tình hình thực tế để nắm tình hình địch, ta và diễn biến tại chỗ, từ đó thảo ra bản "Đề cương cách mạng miền Nam". Bản dự thảo Đề cương được đưa ra cho các đồng chí Xứ ủy viên thảo luận, hầu hết các đồng chí Xứ ủy viên đều thống nhất.Tháng 4-1957, anh Lê Duẩn ra Bắc, được Trung ương giao làm công việc chung của Đảng và trực tiếp chỉ đạo cách mạng miền Nam. Anh đã báo cáo với Bộ Chính trị về tình hình địch, ta và nguyện vọng thiết tha của đồng bào, đồng chí miền Nam đề nghị phát động đấu tranh vũ trang, trình bày Đề cương cách mạng miền Nam. Dịp này, tôi gặp anh Lê Duẩn ở Bộ Quốc phòng, tôi hỏi anh là tại sao ta không đẩy nhanh đấu tranh vũ trang lên, thì anh nói rằng:- Ở trong ấy, quân Mỹ - Diệm bắn giết, tàn sát dân mình quá thể sau một vài trận đầu ta đánh thử nghiệm có hiệu quả, chừ khắp miền Nam đang rậm rịch chuẩn bị và nóng lòng chờ lệnh cho hoạt động vũ trang. Nhưng từ hôm ra miền Bắc tới nay, tôi đã thấy tình hình trong nước, tình hình quốc tế hết sức phức tạp và càng thấy rõ một điều rằng, dù mình rất muốn nhưng không thể nôn nóng được. Làm cách mạng phải biết chờ đợi, vì đây là việc quá lớn, phải là Bộ Chính trị và Trung ương quyết định nhiệm vụ của hai miền, của cả nước thì mới làm được và làm mới hiệu quả.Trước khi về, anh còn nhắc lại: Nhớ là phải biết chờ đợi. Nhưng lo được cái gì cho miền Nam thì phải tích cực và hết sức lo đi.Nghe anh nói, tôi cảm thấy trong lãnh đạo có cái gì đó còn đang cân nhắc để đi đến sự thống nhất. Mãi sau này tôi mới biết trong lãnh đạo Trung ương có những ý kiến chưa thật đồng nhất.Sau này tôi có nghe một số anh em cho biết về sự ra đời Nghị quyết 15. Ngày 27-6-2005, tôi tới thăm anh Phạm Văn Xô, nguyên là ủy viên Trung ương Cục (khi anh đang điều trị bệnh tại Bệnh viện Thống Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh). Anh cho biết, đầu năm 1957, anh và anh Phan Văn Đáng đại diện cho Xứ ủy Nam Bộ ra Bắc họp và đề nghị với Trung ương cho miền Nam được đấu tranh vũ trang, nhưng đề nghị chưa được chấp nhận. Hai anh thất vọng, tính quay trở lại miền Nam. Trước khi về, anh Lê Duẩn bảo hai anh lên chào Bác Hồ. Bác đã căn dặn những lời vô cùng quý giá:- Hai chú về nói với Xứ ủy rằng, miền Nam ở xa Trung ương, Xứ ủy Nam Bộ phải chịu trách nhiệm với Trung ương. Cách mạng phải sáng tạo. Kiên quyết không để cho Mỹ - Diệm tiêu diệt cách mạng miền Nam.Nghe lời Bác dặn, các anh và cả Xứ ủy Nam Bộ phấn chấn vô cùng tận. Thế là, dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy, đồng bào và chiến sĩ miền Nam đã moi súng tự chôn lên, tổ chức đánh những trận đầu tiên thắng lợi. Hôm đó anh Hai Xô khẳng định rằng: Đó là một trong những thời điểm mà cách mạng Việt Nam đang đứng trước giai đoạn nhạy cảm "ngàn cân treo sợi tóc". Nếu cứ bùng nhùng thì chỉ một, hai năm nữa đế quốc Mỹ sẽ thực hiện âm mưu "quốc tế hóa Việt Nam" như là Nam - Bắc Triều Tiên, lúc đó ta khó có thể có cách gì giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước được.Có thể nói, nỗi đau lớn nhất của nhân dân cả nước, của cách mạng Việt Nam là ngay sau Hiệp định Geneva, đồng bào ta thì tay không đấu tranh đòi thi hành Hiệp định, còn đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm thì dùng bạo lực thực hiện một đại chiến dịch đàn áp khủng bố dã man đồng bào miền Nam. Chúng quyết "diệt tận gốc, trốc tận rễ" cơ sở cách mạng và dìm cuộc đấu tranh chính nghĩa của đồng bào miền Nam trong bể máu. Mỹ tiến hành chiến dịch "tố cộng", “diệt cộng" trên toàn miền Nam, công khai, trắng trợn đánh phá rất khốc liệt phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân miền Nam. Không khí khủng bố đè nặng lên từng thôn ấp. "Thực chất đây là cuộc chiến tranh xâm lược một phía nhằm chiếm miền Nam làm bàn đạp để xâm lược cả nước. Quần chúng không còn con đường nào khác hơn là phải vùng lên, sống chết với Mỹ - Diệm. Tình thế cách mạng cho các cuộc khởi nghĩa từng phần đã chín muồi"6. Trong bối cảnh đó, Đề cương cách mạng miền Nam của Xứ ủy Nam Bộ đã ra đời. Tiếp đón Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 - một nghị quyết lịch sử, quyết định đường lối của cách mạng miền Nam và của cả nước đã ra đời.Sau khi Trung ương ra Nghị quyết là gặp tôi, anh Lê Duẩn phấn khởi nói:- Được rồi! Trung ương quyết rồi!Nghị quyết 15 của Trung ương ra đời trong hoàn cảnh khó khăn và phức tạp như vậy, chứng tỏ kinh nghiệm dày dạn và trưởng thành vượt bậc của Đảng ta cả về lý luận và thực tiễn, cả về đường lối và phương pháp cách mạng. Nó thể hiện rõ đường lối độc lập, tự chủ và sách lược mềm dẻo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với tình hình quốc tế và trong nội bộ lãnh đạo của ta lúc bấy giờ, đáp ứng được nguyện vọng bức thiết của cán bộ, đảng viên đang lãnh đạo đấu tranh ở miền Nam và quảng đại quần chúng nhân dân.Nghị quyết 15 là định hướng cơ bản để các cơ quan thuộc Bộ Tổng Tham mưu triển khai thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, góp phần vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Cán bộ chủ chốt của cơ quan Cục được học tập quán triệt, thống nhất tư tưởng, trên cơ sở đó vận dụng vào nhiệm vụ tổ chức lực lượng chi viện chiến trường theo chỉ đạo của Tổng Quân ủy.---------------------------------------------------------------

5. Từ tháng 11-1963 đến tháng 6-1965, nội bộ chính quyền và quân đội Sài Gòn đã diễn ra 14 lần đảo chính.6. Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 2, tr. 98.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG - CHƯƠNG 4, PHẦN 1 | Câu chuyện thời hoa lửa