Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG - CHƯƠNG 5, PHẦN 2

Đại tướng Lê Đức Anh (1920–2019), bí danh Sáu Nam, là nhà lãnh đạo quân sự và chính trị cấp cao của Việt Nam, từng giữ chức Chủ tịch nước thứ 4 (1992–1997). Ông là vị tướng dày dạn trận mạc, có vai trò quyết định trong Chiến tranh biên giới Tây Nam và là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (1987-1991), người có công lớn trong bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ và đưa Việt Nam gia nhập ASEAN. Bài viết chia sẻ nội dung cuốn sách ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG Nhà xuất bản Chính trị Quốc g

Quảng Ninh29/03/2026Bùi Thị Thùy Linh (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Tiên Yên)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tiếp theo kỳ trước.

Đến giữa năm 1965, thất bại trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt", Mỹ chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ", ồ ạt đưa quân Mỹ vào miền Nam Việt Nam từ 18.000 quân (tháng -1965) lên 180.000 quân (tháng 11-1965). Đồng thời, Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân. Chúng cố gắng ổn định tình hình chính trị, củng cố chính quyền tay sai, ngăn chặn đảo chính, bình định có trọng điểm và tăng cường hành quân càn quét từ miền Trung đến Nam Bộ.Chiến thắng Đông - Xuân 1965-1966 có ý nghĩa rất quan trọng. Ta đã đánh thắng chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của Mỹ ngay từ keo đầu, đánh thắng quân viễn chinh xâm lược Mỹ ngay từ hiệp đầu.Cuối tháng 11-1966, tôi được Trung ương gọi ra miền Bắc báo cáo tình hình. Ở Hà Nội, tôi tranh thủ về thăm nhà, căn hộ số 91, phố Lý Nam Đế. Đang thời điểm không quân Mỹ ném bom phá hoại miền Bắc rất dữ nên con tôi đã đi sơ tán, còn vợ thì trực ở bệnh viện nên tôi không gặp được. Anh Lý Ban, quê gốc Cần Giuộc và vợ anh, là người Hoa, mời tôi tới nhà riêng ăn cơm. Hôm đó, chị làm món thịt gà rang muối, món ăn truyền thống khá ngon của người Hoa. Ăn cơm xong, anh hỏi tôi một câu: "Anh ở trong ấy ra, quân Mỹ vào, găng lắm phải không?". Tôi bảo: “Quân và dân ta đâu có sợ! Nó kéo vào thế chứ kéo vào nữa cũng đánh!". Sau đó, tôi và anh Lý Ban cùng đi trong đoàn cán bộ Việt Nam sang Trung Quốc, do anh Phạm Văn Đồng (anh Tô) dẫn đầu. Trước khi đi, tôi sang thăm anh Võ Nguyên Giáp nhưng không gặp nên tôi viết thư cho anh chị và nhờ đồng chí Sinh, cán bộ Văn phòng Bộ Quốc phòng chuyển giúp.Tôi từ miền Nam đi ra Bắc và cả khi đi cùng đoàn cán bộ sang Trung Quốc đều đi bằng máy bay của Hoàng gia Campuchia. Việc đi lại rất khẩn trương nên lúc đi Tổng cục Chính trị tiễn và đưa chúng tôi sang Quảng Châu, rồi từ Quảng Châu đi Tô Châu để gặp Chủ tịch Mao Trạch Đông. Lúc đó, đại diện Tổng cục Chính trị đưa và đón chúng tôi là đồng chí Hồ Bá Phúc, Phó Cục trưởng Cục Cán bộ, người quê gốc miền Nam.Sang tới Tô Châu, trong cuộc gặp với Chủ tịch Mao Trạch Đông, anh Tô gọi tôi cùng đi. Chủ tịch Mao Trạch Đông hỏi không nhiều, nói rất ngắn gọn:- Quân Mỹ vào miền Nam Việt Nam đông, tư tưởng của người dân và chiến sĩ thế nào? Hiện nay, cách mạng ở miền Nam của các đồng chí có khó khăn gì?Khi đó anh Tô bảo tôi mới ở miền Nam ra, hãy trả lời Chủ tịch Mao Trạch Đông. Tôi nói:- Về tư tưởng, Mỹ vào đông vậy chứ đông hơn nữa thì bộ đội và nhân dân miền Nam cũng quyết đánh. Về khó khăn, hiện tại đồng bào miền Nam chiến đấu bằng vũ khí có gì đánh nấy, chủ yếu là súng đạn tự tạo, súng trường bá đỏ K44 sản xuất theo kiểu mẫu trước Chiến tranh thế giới thứ nhất. Xe tăng và máy bay của Mỹ rất nhiều nhưng Việt Nam thiếu vũ khí chống tăng, bắn máy bay và đánh tàu thủy. Chúng tôi cũng thiếu đôla để mua gạo, vì từ trước đến nay cách mạng miền Nam Việt Nam vẫn mua gạo từ Campuchia và Thái Lan là chủ yếu, mà mua bên đó phải bằng đôla.Nghe tôi trả lời vậy, Chủ tịch Mao Trạch Đông liền chỉ tay vào các quan chức dưới quyền mình đang có mặt tại đó:- Hãy giải quyết cho các đồng chí ở miền Nam Việt Nam súng đạn và tiền!Tôi cứ nghĩ Chủ tịch Mao Trạch Đông nói vậy thôi, chứ nếu có được thì chắc còn lâu. Nào ngờ, khi đoàn chúng tôi về nước đã được tin Đảng Cộng sản, Nhà nước và nhân dân Trung quốc đang tích cực thực hiện ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch.Sau chuyến đi Trung Quốc về, tôi cứ suy nghĩ mãi. Trước đó, Trung Quốc chỉ giúp ta súng trường K44, nhưng đến năm 1966 thì khác, súng chống tăng B40, B41, súng máy cao xạ 12,7 ly, đôla tiền mặt, tất cả sự giúp đỡ đều do đích thân Chủ tịch Mao Trạch Đông chỉ thị. Tại sao? Và, Trung Quốc quan hệ với Quốc vương Sihanouk (Xihanúc) thế nào mà có thể chở thẳng vũ khí từ Trung Quốc sang cảng Sihanoukville; súng đạn lại giao cho Thủ tướng Lon Nol (Lon Non) và quân đội Hoàng gia Campuchia chuyên chở từ cảng Sihanoukville đưa tới Kampong Cham (Kôngpông Chàm), Klachie, rồi từ đó chở về biên giới Việt Nam rất nhanh. Hồi đó cứ cho 1kg hàng từ cảng Sihanoukville về tới đất Việt Nam thì trả công một đôla.Tại sao vậy?... Và như vậy, đến đầu năm 1967, súng đạn và tiền bạc đã vào tới Bộ Chỉ huy Miền. Ta thực hiện được ý tưởng của anh Nguyễn Chí Thanh là "Mở mặt trận B3 (Tây Nguyên)". Việc giao gạo và chở đạn do anh Tư Võ đảm nhiệm. Quả nhiên, khi ta mở thông được chiến trường Đông Nam Bộ (B2) với Tây Nguyên tức mặt trận B3, thì việc bảo đảm hậu cần cho B2 mới thực sự chắc chắn và thường xuyên. Điều này là vô cùng quan trọng trong chiến tranh.Mỹ tổ chức cuộc hành quân "tìm diệt" liên tục, căng thẳng và quyết liệt. Dưới đất thì xe tăng, xe bọc thép lội nước M113, xe tải quân sự kéo từng đàn. Trên trời thì máy bay cường kích, tiêm kích, ném bom CBU xuống phát quang cả một khu rừng để cho máy bay trực thăng hạ xuống đổ quân. Mỹ chủ trương dùng trực thăng chở quân với số lượng lớn đổ bộ vào bên sườn hoặc phía sau, bất ngờ đánh tập hậu vào đội hình của quân ta, trong khoảnh khắc vừa đẩy nhanh được tốc độ tiến công vừa nhanh chóng làm thay đổi cục diện chiến trường, thay đổi tương quan lực lượng; trong chốc lát đẩy đối phương từ chỗ chủ động sang thế bị động, lúng túng, bị bao vây và có nguy cơ bị tiêu diệt dưới hỏa lực sát thương nhiều chủng loại và dày đặc của chúng.Cuộc phản công mùa khô lần thứ nhất (1965-1966) thất bại, nhưng đế quốc Mỹ vẫn nung nấu một giải pháp giành thắng lợi bằng quân sự để giải quyết cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam.Bước vào mùa khô năm 1966-1967, Mỹ và tay sai mở cuộc phản công chiến lược lần thứ hai, tập trung binh lực, hỏa lực tiến công ồ ạt, tạo thế áp đảo đánh vào vùng Đông Nam Bộ, mà trọng điểm là vùng căn cứ bắc Tây Ninh, nhằm nhanh chóng tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến; tiêu diệt bộ đội chủ lực; bịt chặt biên giới, đánh phá căn cứ kháng chiến của ta; mở rộng vành đai an ninh cho Sài Gòn. Địch ráo riết chuẩn bị cho cuộc hành quân với quy mô lớn mang tên "Junction City" (Gianxơn Xity) tiến công vào căn cứ kháng chiến của ta. Lực lượng được huy động tổng lực gồm: quân Mỹ với 31 tiểu đoàn bộ binh, 1 trung đoàn và 8 tiểu đoàn tăng - thiết giáp, 4 trung đoàn pháo, 8 tiểu đoàn công binh; quân đội Sài Gòn với 1 lữ đoàn dù, 8 đại đội biệt kích và 4 đại đội. Lực lượng không quân gồm: 9 phi đoàn máy bay phản lực chiến đấu F100 và F5A; 5 tiểu đoàn máy bay trực thăng vũ trang (CH47, HU1A, HU1B); 3 phi đoàn máy bay vận tải gồm hai loại máy bay C123, C130; 22 máy bay trinh sát L19, SR101, MOHOC và một số máy bay B52,... Đây là cuộc hành quân lớn nhất của quân Mỹ vào vùng căn cứ Bắc Tây Ninh và là cuộc hành quân thua đau nhất của Mỹ.Nắm được ý đồ của Mỹ sẽ tổ chức cuộc hành quân “Junction City" càn quét lên vùng đứng chân của Trung ương Cục, tức căn cứ chiến khu Dương Minh Châu, Bộ Chỉ huy Miền nhất trí chỉ để Trung đoàn 3 trấn giữ ở vùng Lò Gò, phía tây chiến khu Dương Minh Châu, nhưng tổ chức phân tán lực lượng, sử dụng lực lượng tác chiến quy mô cấp đại đội là chủ yếu để cùng với bộ đội và du kích cơ quan đánh địch. Trung đoàn 16 độc lập đang đứng chân và hoạt động ở hướng Củ Chi và Trảng Bàng, Đức Hòa. Còn hai trung đoàn ở Bến Cát và Dầu Tiếng là Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 ở hướng Dầu Tiếng - Căm Xe, ngoài trọng điểm tấn công của địch. Tuy cả ba trung đoàn chủ lực (1, 2 và 3) là đội hình của Sư đoàn 9, nhưng lúc này phải bố trí phân tán để đối phó với chủ trương, âm mưu tìm diệt chủ lực “Việt cộng" của Mỹ.----------------------------------------------------------------3. Năm 1964, 17.427 bộ đội đi B, tăng 14 lần so với năm 1960 (1.217 bộ đội); 3.475 tấn hàng được đưa vào miền Nam, tăng 10 lần so với năm 1960 (337 tấn).4. Tên gọi “chiến tranh đặc biệt" được dùng lần đầu tiên trong một báo cáo của tướng Mỹ Trinder (Trinđơ) trước Thượng viện Mỹ tháng 3-1962; trước đó thường gọi là loại “Chiến tranh thứ ba", "Chiến tranh chống du kích", "Chiến tranh chống lật đổ" hay "Chiến tranh dưới mức cục bộ". Mục đích của chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" là chống lại chiến tranh du kích, chống lại chiến tranh giải phóng của nhân dân (Mỹ vẫn gọi là "Chiến tranh chống lật đổ" không có chiến tuyến cố định và thường ít huy động các binh đoàn lớn. Hình thức của nó là phối hợp đầy đủ các hành động quân sự, chính trị, kinh tế và tâm lý. Lực lượng quân sự chủ yếu là quân đội tay sai với vũ khí, phương tiện chiến tranh, tiền của của Mỹ và do cố vấn Mỹ chỉ huy (Xem Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđd, t.2, tr.157).

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn