Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG - CHƯƠNG 5 PHẦN 4

Đại tướng Lê Đức Anh (1920–2019), bí danh Sáu Nam, là nhà lãnh đạo quân sự và chính trị cấp cao của Việt Nam, từng giữ chức Chủ tịch nước thứ 4 (1992–1997). Ông là vị tướng dày dạn trận mạc, có vai trò quyết định trong Chiến tranh biên giới Tây Nam và là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (1987-1991), người có công lớn trong bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ và đưa Việt Nam gia nhập ASEAN. Bài viết chia sẻ nội dung cuốn sách ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG Nhà xuất bản Chính trị Quốc g

Quảng Ninh29/03/2026Bùi Thị Thùy Linh (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Tiên Yên)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tiếp theo kỳ trước.

Thực hiện kế hoạch đã định, cuối tháng 1-1968, ta bắt đầu mở đợt hoạt động lớn ở mặt trận đường 9 - Khe Sanh nhằm đánh lạc hướng, thu hút một bộ phận đáng kể quân cơ động của Mỹ; vây hãm, giam chân và tiêu hao chúng, tạo thế cho các chiến trường khác tiến công và nổi dậy. Lập tức, tướng Westmoreland - Tổng Chỉ huy quân đội Mỹ ở Nam Việt Nam - phải điều quân tăng cường, chống giữ; cho không quân ném bom các khu rừng xung quanh căn cứ Khe Sanh và khu vực giới tuyến.Như vậy, tướng Westmoreland đã sập bẫy đòn nghi binh chiến lược của ta.Đêm 29 rạng ngày 30-1-1968 (tức đêm giao thừa Tết Mậu Thân, theo lịch miền Nam), quân và dân ta đồng loạt nổ súng tiến công trên toàn chiến trường miền Nam, tại 4 thành phố, 37 thị xã và hàng trăm thị trấn, 4 bộ tư lệnh quân đoàn địch, hầu hết các bộ tư lệnh sư đoàn, 30 sân bay và gần 100 cơ sở hậu cần của chúng. Trong đó có những trận đánh đã gây chấn động lớn như trận đánh vào dinh tổng thống Việt Nam Cộng hòa, Bộ Tổng Tham mưu, Đài Phát thanh Sài Gòn, tòa đại sứ Mỹ.Cuộc Tổng tiến công táo bạo của ta đã làm cho bộ máy điều hành chiến tranh ở Việt Nam của Mỹ sững sờ, choáng váng. Chỉ trong 24 giờ đồng hồ, toàn bộ hậu phương an toàn nhất của kẻ địch, hầu hết các thành phố, tỉnh lỵ mà trước đó hầu như đứng ngoài cuộc chiến, đều bị tiến công đồng loạt.Cái thế của hai bên trong chiến tranh bị đảo lộn, hậu phương của kẻ địch bỗng chốc trở thành tiền tuyến nóng bỏng. Đúng là ta đã ra những đòn sấm sét ngay trong lúc Mỹ và tay sai có hơn 1 triệu quân, nắm trong tay những phương tiện chiến tranh hiện đại, lại bố trí trong thế phòng thủ liên hoàn, vững chắc. Nghe tin ở Huế, quân giải phóng của ta không những tiến công mãnh liệt, đạt hiệu suất chiến đấu cao mà còn làm chủ thành phố Huế suốt 25 ngày đêm, thì tôi nói là Huế rất giỏi. Có thể nói, đợt đầu của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, chúng ta đã ra đòn bất ngờ và đánh trúng vào “hệ thần kinh trung ương" của địch, đánh vào “huyết mạch", vào "tim óc" và "yết hầu” của chúng.Trong Tổng tiến công Tết Mậu Thân, bộ đội tưởng rằng sẽ chiếm luôn đô thị, nhưng kết quả không như thế nên trong tư tưởng một bộ phận có phần hẫng hụt, niềm vui không trọn vẹn và có cái gì đó man mác. Khi nghe phổ biến là “tổng công kích, tổng khởi nghĩa" giành thắng lợi quyết định, nhiều anh em đã hình dung ta sẽ giành chính quyền như trong Cách mạng Tháng Tám 1945, nên khi có lệnh rút ra thì tư tưởng ắt có băn khoăn.Vậy có khởi nghĩa không? Nói không có thì không đúng, nhưng khởi nghĩa chỉ mức độ. Có một bộ phận quần chúng nhân dân tích cực tham gia, ủng hộ. Nhưng chưa có sự nổi dậy đồng loạt của đông đảo nhân dân; một bộ phận tầng lớp nhân dân đô thị, kể cả bà con Hoa kiều ở Chợ Lớn đã hưởng ứng và tham gia hoạt động với những mức độ khác nhau.Tôi được phân công chỉ huy bộ đội ở hướng tây Sài Gòn, từ Long An đánh vào Tổng nha Cảnh sát và Cảnh sát đô thành. Sở chỉ huy của tôi đặt bên sông Vàm Cỏ Đông. Trước Tổng tiến công, Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền tổ chức bố trí chiến trường, thành lập khu trọng điểm là Sài Gòn - Gia Định, có hai “Bộ Chỉ huy tiền phương" (tức Sài Gòn và vùng phụ cận). Anh Trần Văn Trà và anh Mai Chí Thọ phụ trách Tiền phương Bắc, còn gọi là Tiền phương I. Anh Võ Văn Kiệt phụ trách Tiền phương Nam, còn gọi là Tiền phương II.Khi đánh vào Sài Gòn, tôi gặp anh Trần Bạch Đằng (anh cùng ở Tiền phương II với anh Võ Văn Kiệt), anh Linh cũng có mặt tại đây. Tôi đề xuất không nên mở đợt 2 đánh vào nội đô nữa, vì không còn yếu tố bí mật, bất ngờ; đợt 2 có mở thì nên đánh ra vùng ven đô và phụ cận. Lúc đó máy bay trực thăng của địch hoạt động nhiều.Anh Hoàng Văn Thái nói rằng hướng của tôi gặp sình lầy, khó khăn, nên sẽ tăng cường cho tôi một trung đoàn nữa. Tôi lấy một tiểu đoàn của Long An do anh Hai Hoàng làm Tiểu đoàn trưởng đánh thọc sâu, đưa Trung đoàn 3 vào áp sát quận 6, gần tới Phú Lâm. Các đơn vị này đánh rất giỏi, thọc sâu vào tận quận 5, ở lại một ngày, quân địch bu tới đánh, tôi lệnh cho các anh rút ra. Đồng bào Hoa kiều đã chỉ dẫn cho các anh đục xuyên các tường nhà để bí mật rút ra. Chỗ nào không đục được thì vận động trên mái nhà. Còn thương binh thì bà con người Hoa và người Việt mang giấu, cứu chữa và nuôi dưỡng, khi nào lành mới đưa anh em ra. Tôi được biết trong đợt 1, ở quận 3 có bà mẹ che giấu một chiến sĩ ta bị thương trong nhà mình, con trai của bà là trung tá hải quân Việt Nam Cộng hòa còn đi mua thuốc để chữa chạy cho đồng chí thương binh này.Ở quận 1 cũng có một bà mẹ có hành động tương tự. Cậu con trai của bà là trung úy thông tin của Việt Nam Cộng hòa đã trực tiếp lo liệu và đưa chiến sĩ ta ra khỏi nội đô trở về đơn vị.Sau đợt 2, tôi đề nghị dứt khoát rút ra. Dân mới chỉ giúp đỡ chứ chưa đồng loạt “nổi dậy" thì quân ta rút ra! Riêng biệt động thành ở lại.Đòn tiến công Mậu Thân 1968 đã gây kinh hoàng cho cả nước Mỹ. Khắp các bang của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ rộ lên những cuộc biểu tình chống chiến tranh. Nhiều người trong chính giới Mỹ đòi xét lại chính sách của Mỹ với cuộc chiến này.Ngày 27-2-1968, Crokite, một phóng viên của Hãng truyền hình CBS Mỹ đến Sài Còn tận mắt xem xét tình hình đã bình luận: “Giờ đây, có lẽ điều chắc chắn hơn bao giờ hết là cuộc chiến tranh ở Việt Nam sẽ đi vào bế tắc" và nói thêm rằng “Chỉ còn một cách để người Mỹ thoát khỏi vũng lầy là thương lượng với Hà Nội”10. Trước tình hình đó, Quốc hội Mỹ phải xem xét lại toàn bộ chính sách và chiến lược của Mỹ ở Nam Việt Nam. Trong nội bộ các cố vấn thân cận của Tổng thống Mỹ diễn ra sự chia rẽ gay gắt về quan điểm đối với cuộc chiến tranh mà Mỹ đang theo đuổi ở Việt Nam. Dư luận Mỹ và phần lớn nghị sĩ Quốc hội, quan chức cao cấp trong chính quyền và giới tài phiệt nhận thức rõ rằng: Mỹ không thể giành chiến thắng ở Việt Nam; rằng có tăng quân, tăng tiền của, Mỹ cũng không thể giành lại quyền chủ động trên chiến trường.Ngày 23-3-1968, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara (Mắc Namara) nộp đơn từ chức, sự kiện này như một quả bom nổ giữa chính trường nước Mỹ. Ngày 25-3-1968, Tổng thống Johnson và Bộ trưởng Quốc phòng Clark Clifford (Clắc Clípphớt) (mới thay McNamara) phải triệu tập một cuộc họp gồm những thành phần gọi là “những người am hiểu và khôn ngoan nhất", mà thực chất là 14 quan chức cấp cao. Sau ba ngày tranh cãi gay gắt, 10 trên 14 vị đã tán đồng chấm dứt leo thang chiến tranh và có biện pháp rút lui ra khỏi cuộc chiến11.Tiếp đó, ngày 26-3-1968, Bộ trưởng Quốc phòng Clifford đã báo cáo với Tổng thống rằng, theo ý ông, cuộc chiến tranh ở Việt Nam là "một canh bạc thua thực sự"12. Cuối cùng, nước Mỹ đã đi đến quyết định: Tướng Westmoreland - Tổng Chỉ huy quân đội Mỹ ở Nam Việt Nam bị cách chức; Đô đốc Sharp (Sáp) thôi giữ chức Tư lệnh Bộ Chỉ huy Mỹ ở Thái Bình Dương.Ngày 31-3-1968, Johnson buộc phải đơn phương tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán song phương với ta tại Paris về lập lại hòa bình ở Việt Nam, chấm dứt việc đưa quân Mỹ vào chiến trường miền Nam và tuyên bố không ra tranh cử tổng thống nhiệm kỳ thứ hai. Đây là sự công khai thừa nhận chiến lược “Chiến tranh cục bộ" của Mỹ đã phá sản. Tuy chúng ta có khuyết điểm là sau đợt 2 đã chậm chuyển hướng tiến công, lực lượng cách mạng bị tổn thất, nhưng thất bại của đế quốc Mỹ trong "Chiến tranh cục bộ" là không thể nào cứu vãn được.Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, lực lượng biệt động Sài Gòn có 88 đội viên vào trận. Trong vòng vây của kẻ thù, cán bộ, chiến sĩ đặc công - biệt động Sài Gòn đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, 74 người hy sinh, hoặc sa vào tay giặc trong tư thế "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh".Tôi muốn nói thêm về lực lượng biệt động. Đây là một sáng tạo về hình thức tổ chức lực lượng vũ trang của Đảng ta: gọn nhẹ, bí mật, linh hoạt, nằm trong dân, hòa vào dân, thường xuyên hoạt động trong lòng địch. Biệt động là lực lượng chiến đấu, thường đánh đòn hiểm, táo bạo, bất ngờ vào cơ quan đầu não và các mục tiêu quan trọng của địch ở các đô thị. Lực lượng biệt động Nam Bộ ra đời từ kháng chiến chống thực dân Pháp và phát triển mạnh trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, đặc biệt ở Sài Gòn - Gia Định. Sự ra đời, trưởng thành và phương thức hoạt động của lực lượng này đánh dấu bước phát triển mới của chiến tranh nhân dân và là nét đặc sắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam.Trong cuộc Tổng tiến công đồng loạt Tết Mậu Thân 1968, lực lượng biệt động đã mở đầu xuất sắc cuộc tiến công ở Sài Gòn và các đô thị. Với tinh thần dẫn cảm vô song, lối đánh táo bạo, thông minh và sự hy sinh to lớn của lực lượng biệt động đã góp phần xứng đáng trong việc tạo nên hiệu lực chiến lược lớn của cuộc tổng tiến công, đánh bại cố gắng chiến tranh cao nhất của đế quốc Mỹ. Đây là kết quả của quá trình chuẩn bị, xây dựng thế trận xây dựng lực lượng trong nhiều năm trước đó, trong đó có kết quả xây dựng cơ sở chính trị và cơ sở vũ trang ở các đô thị theo phương châm của Đảng: đánh địch trên ba vùng chiến lược.Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân cùng những cú “đánh bồi" tiếp theo đã thực sự tạo nên một đòn đánh “đủ đô", đủ sức nặng làm nhụt ý chí của đế quốc Mỹ, tạo ra bước ngoặt mới về chiến lược của cuộc chiến tranh, buộc địch phải hủy bỏ cuộc phản công chiến lược lần thứ ba, bị động đối phó. Cuối cùng, Mỹ phải xuống thang, ngồi vào bàn đàm phán để dẫn tới ký kết Hiệp định Paris năm 1973, thừa nhận “Độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam", rút hết quân Mỹ và không điều kiện ra khỏi Nam Việt Nam. Nhưng cùng với việc rút quân, Mỹ đã thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh" - "phi Mỹ hóa". Để thực hiện kế hoạch "Việt Nam hóa chiến tranh", chúng tiến hành ba bước. Bước một, đến 30-6-1970: thực hiện “bình định" vùng đông dân để quân Mỹ rút một bộ phận. Bước hai, đến 30-6-1971: “bình định" được tất cả các vùng đông dân để quân Mỹ rút đại bộ phận lực lượng chiến đấu. Bước ba, đến 30-6-1972: cơ bản, Sài Gòn chỉ huy được miền Nam. Hoàn thành giai đoạn cơ bản nhất của “Việt Nam hóa chiến tranh", Mỹ sẽ rút hết quân về nước.Mỹ đề ra kế hoạch "phát triển tối tân hóa" quân đội Sài Gòn, tiến hành trong ba giai đoạn: giai đoạn 1.875.790 quân; giai đoạn 2, đưa quân số lên 992.836 người, bổ sung cho giai đoạn 1; giai đoạn 3, đưa số quân lên 1.100.000 người. Trong quá trình rút quân, Mỹ củng cố và tăng cường quân đội và chính quyền Sài Gòn, tập trung lực lượng tấn công quyết liệt giành đất, giành dân và đánh phá miền Bắc ác liệt hơn, kể cả việc sử dụng máy bay ném bom chiến lược B52. Đến cuối năm 197l, quân Mỹ cơ bản đã chấm dứt vai trò chiến đấu trên bộ. Tính đến ngày 31-1-1972, tổng số quân Mỹ ở miền Nam chỉ còn 139.000 quân. Tính theo đơn vị, 30 trên tổng số 34 lữ đoàn đã rút.Như vậy, đến đầu năm 1972, Mỹ đã cơ bản triển khai thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh". Nhưng lúc đó, bộ đội ta, kể cả lãnh đạo chỉ huy chưa hiểu hết sự khó khăn, khốc liệt của Việt Nam hóa chiến tranh và chưa thấy hết sự hiểm độc của Mỹ, nên từ cuối năm 1968 đến cuối năm 1971, bộ đội chủ lực ta phần lớn đã thoát ly khỏi địa bàn, làm mất chỗ dựa cho dân và cơ sở chống bình định.Tôi trở về chiến khu Dương Minh Châu.Những ngày này, bộ đội chỉ nghe mang máng và hiểu đơn giản là bây giờ "Việt Nam hóa", là Mỹ rút, giao cho chính quyền Sài Gòn.Cuối năm 1968, tôi cùng với hai anh Hoàng Văn Thái, Phạm Hùng ra Bắc báo cáo tình hình. Đi bằng máy bay của Hoàng gia Campuchia từ sân bay ở Phnom Penh, hạ cánh tại sân bay Gia Lâm, Hà Nội. Chúng tôi được bố trí nghỉ ở nhà khách của Trung ương trên phố Phan Đình Phùng.Anh Lê Duẩn gặp tôi cho biết bố trí tôi sẽ phụ trách Quân khu 9, nhưng trước mắt phải đi chữa bệnh. Tôi được Bác Hồ cho gọi, nhưng vì tôi bị ốm nên không đến được, chỉ có anh Hoàng Văn Thái và anh Phạm Hùng đến gặp Bác.Đến đầu năm 1969, tôi khỏi bệnh. Được Bác gọi lên, tôi báo cáo: Thưa Bác, Mỹ trước kia cùng quân đội Sài Gòn làm hai việc bình định và tìm diệt, bây giờ chúng tập trung làm bình định rất quyết liệt, nên trước mắt ta còn khó khăn. Nhưng Mỹ đã công khai tuyên bố là sẽ rút quân, đến khi Mỹ rút quân hết, ta sẽ đánh bại quân đội Sài Gòn. Bác cười và nói, chú ở lại ăn cơm. Bác ăn hết một bát cơm đầy và bảo: “Chú thấy Bác còn khỏe đấy! Chú hãy chuẩn bị để đưa Bác vào thăm đồng bào và chiến sĩ miền Nam". Tôi chỉ dạ vâng mà không nói gì thêm. Khi chào và chia tay Bác, Bác nhắc lại: "Chú về chuẩn bị cho Bác đi vào thăm đồng bào và chiến sĩ miền Nam". Lúc này tôi rất hiểu tâm trạng và tấm lòng yêu thương của Bác đối với đồng bào và chiến sĩ miền Nam. Tôi cố nén xúc động, im lặng, chỉ "Vâng", chứ không dám hứa với Bác.Khi về, tôi thưa với anh Phạm Hùng chuyện đó và nói với anh rằng Bác nói chuyện đó kiên quyết lắm. Anh Hùng nói: “Chưa được! Bác cũng đã nói với tôi, nhưng tôi thưa với Bác khó lắm!". Tôi nói nếu anh đồng ý thì tôi có thể tổ chức được, vì Bác tha thiết lắm. Trong lòng tôi cũng muốn được đưa Bác vào. Tôi cứ suy nghĩ mãi làm sao có thể đưa được Bác vào thăm miền Nam.Đến ngày 3 tháng 9, tôi đang ở Quân khu 9 thì nghe tin Bác mất, trong tôi xúc động nghẹn ngào, nước mắt cứ trào ra. Tôi vừa thương tiếc, vừa ân hận vì Bác tha thiết vào thăm miền Nam mà mình không làm được.Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời để lại niềm tiếc thương và sự hẫng hụt trong lòng đồng bào và chiến sĩ cả nước nói chung, đồng bào và chiến sĩ miền Nam nói riêng. Sau đó, đồng chí Tôn Đức Thắng đảm nhận cương vị Chủ tịch nước. Cụ Tôn Đức Thắng là một người mẫu mực về đạo đức, lối sống vô cùng khiêm tốn và kiên định lập trường đánh Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam. Từ một người thợ, cụ là một trong những người tham gia cách mạng sớm nhất, là người kéo cờ búa liềm trên hạm đội tàu chiến của phương Tây để ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga.Khi tôi trở vào miền Nam, Bộ Chỉ huy Miền vẫn ở Tây Ninh.Vào tới chiến trường, tôi cảm nhận thấy có sự hụt hẫng về tư tưởng trong cán bộ chiến sĩ. Cảm giác như có một làn sóng ngầm không biết từ đâu, cứ lấy sự tổn thất của Mậu Thân làm cái cớ để chỉ trích lãnh đạo. Không khí trầm lắng, cứ rì rầm bàn tán, nhưng khi hỏi thì không ai nói gì.Đánh giá về Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, Đảng ta chỉ ra: “… chủ quan trong việc đánh giá tình hình, cho nên ta đã đề ra yêu cầu chưa sát với tình hình thực tế lúc đó"13.Mặc dầu có khuyết điểm, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968) vẫn giữ một vị trí rất to lớn và oanh liệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước"14. Cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân đã giành những thắng lợi quan trọng cả về quân sự, chính trị và ngoại giao, về cơ bản đã đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ" của Mỹ, mở ra cho ta khả năng thực hiện chiến lược “đánh cho Mỹ cút" để tiến tới “đánh cho ngụy nhào", giải phóng hoàn toàn miền Nam.---------------------------------------------------------------10. Theo J. Pimlott, trong cuốn Việt Nam - những trận đánh quyết định, Trung tâm Khoa học công nghệ - môi trường, Bộ Quốc phòng, 1997, tr.104.11. 14 vị thuộc phái diều hâu đến họp gồm: Acheson, Goldberg, George Ball, Megxorge Bund, Henry Cabot Lodge, Abe Fortas, Douglas Dillon, John J.McCloy, Robert Murphy, Maxwell Taylor, Omar Pnadley, Mathew Ridgway, Rusk, Rostows; tất nhiên còn có Johnson, Wheeler và Clifford. Chỉ trừ có Bradley Murphy, Fortas và Taylor, còn lại tất cả đều muốn rút ra khỏi cuộc chiến tranh ở Việt Nam (tổng thuật qua tài liệu của Mỹ của Thiếu tướng tình báo Nguyễn Đôn Tự).12. Theo J. Pimlott, trong cuốn Việt Nam - những trận đánh quyết định, Sđd, tr. 122.13, 14. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, 2004, t.34, tr.215,216.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn