Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG - CHƯƠNG 6 PHẦN 1

Đại tướng Lê Đức Anh (1920–2019), bí danh Sáu Nam, là nhà lãnh đạo quân sự và chính trị cấp cao của Việt Nam, từng giữ chức Chủ tịch nước thứ 4 (1992–1997). Ông là vị tướng dày dạn trận mạc, có vai trò quyết định trong Chiến tranh biên giới Tây Nam và là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (1987-1991), người có công lớn trong bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ và đưa Việt Nam gia nhập ASEAN. Bài viết chia sẻ nội dung cuốn sách ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG Nhà xuất bản Chính trị Quốc g

Quảng Ninh29/03/2026Bùi Thị Thùy Linh (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Tiên Yên)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chương 6

VỀ QUÂN KHU 9, CHỈ HUY BÁM TRỤ VÀ ĐÁNH ĐỊCH BÌNH ĐỊNH LẤN CHIẾMSau những nỗ lực của ba đợt tổng tiến công và nổi dậy trong năm 1968, chúng ta gặp nhiều khó khăn. Đến cuối năm 1968, đầu năm 1969, cách mạng miền Nam đứng trước những thử thách vô cùng nghiêm trọng. Đây là một trong những thời kỳ khó khăn, phức tạp nhất của ta trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ.Đầu năm 1969, tôi được cấp trên giao nhiệm vụ Tư lệnh Quân khu 9. Xuống tại nơi, tôi thấy rõ một thực trạng là, ban đầu Quân khu 9 cũng chưa nhận thức được âm mưu thủ đoạn của địch, nên để quân địch phản công lấn tới, còn ta thì mất đất mất dân. Địch đã bình định lấn chiếm gần hết vùng đông dân trước đây, chỉ còn căn cứ U Minh và khu giải phóng Cà Mau. Cả Khu 9 có 50 xã (trong số 250 xã) có đảng viên bỏ chạy khỏi địa bàn; 40 xã, mỗi xã chỉ còn một, hai đảng viên, không có chi bộ. Trong toàn khu (chưa tính Vĩnh Trà) có 12.000 cán bộ, chiến sĩ bỏ ngũ về nhà. Lực lượng chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương đều mất sức chiến đấu.Khi nghiên cứu sâu âm mưu chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" cho thấy địch tập trung vào mỗi việc là giành dân, xây dựng và phát triển quân đội và chính quyền Sài Gòn, trên cơ sở đó Mỹ từng bước rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Chúng mị dân cao độ và phát xít cũng cao độ. Thấy cần bắn giết là hắn bỏ luôn, không cần tòa án xét xử. Trước đây chúng đặt ra và thực hiện cái gọi là luật "10-59" rất quyết liệt và tàn ác, nhưng còn lập tòa án xét xử bây giờ thì cần bắn là bắn luôn tức khắc.Chẳng hạn, chúng dùng tàu, xuồng chiến đấu và bo bo thực hiện bịt sông Măng Thít rất chặt. Cán bộ, bộ đội ta đi theo "đường du kích" để qua lại là hết sức khó khăn. Lúc đó, ở cồn Tân Quy có ông già Tám, người của giao liên một ông già chất phác, lưng trần, đầu bạc đã dùng xuồng hai đáy giấu cán bộ ta hoặc vũ khí ở dưới, còn bên trên chất củi trái cây, hàng hóa và đi trên tuyến công khai. Mỗi lần qua trạm kiểm soát của địch, ông dùng tiền lót tay. Ông đã thực hiện trót lọt nhiều chuyến, trong đó có cả chuyến chở đồng chí Nguyễn Đệ (tức Ba Trung, sau này là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; những năm đầu thập niên 1990, anh Ba Trung là Tư lệnh Quân khu 9) từ Trung đoàn 3 về quân khu bộ nhận nhiệm vụ mới. Một lần, quân địch nghi ngờ, cho bo bo đuổi theo, chúng nhảy sang xuồng của ông Tám khám xét rất kỹ, lục tung hết lên. Không có chứng cớ gì nhưng chúng vẫn dùng báng súng đập tra khảo ông. Hai ông bà nhất mực trả lời: "Bọn tôi nghèo, chỉ lo làm ăn, biết gì đâu mà khai". Không chứng cứ, không lung lạc được ông, chúng đẩy ông xuống sông rồi xả súng bắn chết. Má Tám, vợ ông ngất đi, lúc tỉnh dậy đã chửi thẳng vào mặt chúng: "Đồ dã man! Giết chồng bà già cả, không có tội tình gì!". Chúng đưa má về khám Cần Thơ giam mấy tháng liền, đánh đập tra tấn vô cùng tàn nhẫn. Má Tám vẫn một lòng trung thành với cách mạng, không khai nửa lời. Sau này, má được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Những người dân như ông bà Tám không phải là số ít.Quân địch tập trung nhiều máy bay các loại, trong đó có máy bay chiến lược B52, pháo binh và bộ binh đánh phá để bình định cho được vùng ruột Vĩnh - Trà, gồm năm huyện: Tam Bình, Trà ôn, Vũng Liên, Càng Long và Cầu Kè. Trước tình hình khó khăn đó, giữa năm 1969 chỉ huy Trung đoàn 3 đã cho hai tiểu đoàn 306 và 308 từ Tam Bình, Trà Ôn, Cầu Kè lui về Tiểu Cần, Trà Cú và Duyên Hải (Trà Vinh), thành ra ở Vĩnh Long và huyện Măng Thít ta không còn chủ lực, một số lực lượng huyện cũng chạy theo Trung đoàn 3 xuống Duyên Hải. Do đó, quân địch bình định được vùng ruột Vĩnh - Trà, gây cho ta nhiều khó khăn. Quần chúng không còn chỗ dựa, phong trào cách mạng sa sút...Tôi thay anh Đồng Văn Cống làm Tư lệnh, anh Ba Bường thay anh Mười Thơ làm Bí thư Khu ủy.Cuối năm 1970, trên điều anh Võ Văn Kiệt xuống thay anh Ba Bường. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Bộ Tư lệnh Quân khu tập trung củng cố về tổ chức, xây dựng lực lượng vũ trang, góp phần khôi phục lại lực lượng chính trị, chỉ đạo phương châm tác chiến, phương thức đấu tranh, khôi phục lại thế và lực của Khu 9, tạo nên một sự chuyển biến mới. Anh Võ Văn Kiệt nắm khá vững vùng Vĩnh Long, Trà Vinh, phía sông Tiền, địa bàn hoạt động của anh từ thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Hôm đầu gặp nhau, tay bắt mặt mừng, anh Kiệt tâm sự, khi anh Phạm Hùng, Bí thư Trung ương Cục trực tiếp giao nhiệm vụ cho anh xuống Khu 9, anh nói ở Vĩnh Long, Trà Vinh, phía sông Tiền thì tôi nắm được còn phía sông Hậu không nắm được. Anh Hùng bảo: "Anh Sáu Nam (Lê Đức Anh) và anh Ba Bường đã giải quyết cơ bản chỗ đứng chân". Rồi anh đưa cho mấy bức điện của Sáu Nam gửi về Trung ương Cục, anh nói "tình hình có khá hơn, có đỡ rồi". Anh đọc lại một câu trong bức điện của tôi: "Ngổn ngang như mối tơ vò, chúng tôi cố gắng lần mò tiến lên". Và anh bảo: "xem ra từ câu này của Sáu Nam thì tình hình dưới đó còn khó khăn, phức tạp lắm". Anh Hùng nói vui: "bây giờ Sáu Nam cũng làm thơ nữa"'. Chúng tôi cùng cười bắt chặt tay nhau, quyết tâm kề vai sát cánh, hợp sức vượt qua giai đoạn khó khăn cao độ này. Về Khu 9, tôi lấy bí danh là "Chín Hòa", anh Kiệt là "Tám Thuận", khi ráp tên tôi là Hòa với tên mới của anh Kiệt là Thuận thành cặp "Hòa Thuận", một sự trùng hợp ngẫu nhiên như có lương duyên trong suốt quá trình công tác với nhau.U Minh là một vùng rộng lớn của miền Tây Nam Bộ, gồm ba khu vực: U Minh Thượng, U Minh Hạ và Năm Căn, phần lớn là rừng tràm bạt ngàn, mùa mưa nước ngập, hết sức hiểm trở. Từ thời kháng chiến chổng thực dân Pháp, U Minh đã trở thành hậu phương, thành căn cứ cách mạng của quân và dân miền Tây. Trong đó U Minh Thượng có vị trí đặc biệt quan trọng. U Minh Thượng rộng hàng trăm nghìn héc ta, cây trăm mọc ken dày cành nọ đan khít với cành kia, rừng tràm mọc ma sát vùng dân cư, tôm, cá, rùa, rắn và chim muông vô cùng phong phú, là nguồn thực phẩm tươi dồi dào nuôi sống bộ đội và nhân dân. Bao bọc U Minh Thượng về phía bắc là tuyến sông Ba Đình, sông Cái Lớn chạy ra biển; phía đông là các kênh Xáng Chắc Băng, Vĩnh Thuận Huyện Sử; phía nam là sông Tiệm, Tân Băng nối liền Rạch Giá và Cà Mau; phía tây là kênh Xáng Xẻo Rô, kênh thứ 11. Suốt thời đánh Mỹ, Bộ Tư lệnh Khu 9 và tiền phương Khu ủy liên tục bám trụ ở U Minh Thượng để lãnh đạo nhân dân kháng chiến. U Minh Thượng cũng là nơi cung cấp người và của cho cuộc kháng chiến ở miền Tây, là địa bàn cơ động lực lượng vũ trang Quân khu 9 tồn tại và xây dựng lớn mạnh là nơi xuất phát tiến công địch ở Cần Thơ và vùng biên giới Hà Tiên tiếp giáp với nước bạn Campuchia.Nhận rõ U Minh Thượng là nơi thường xuyên uy hiếp đối với Mỹ và tay sai, nên ngay từ những năm đầu sau Hiệp định Geneva, chúng đã liên tục tập trung đánh phá và bình định. Bởi vậy, nơi đây liên tiếp diễn ra cuộc đọ sức quyết liệt giữa ta và địch.Kết hợp với hoạt động quốc tế và đấu tranh ngoại giao đang được đẩy mạnh từ khi bắt đầu Hội nghị Paris, tháng 6-1969, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Hội đồng Cố vấn chính phủ được thành lập. Sau khi ra đời, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được 20 nước công nhận.Tháng 7-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn dân (nhân ngày 20 tháng 7), trong đó khẳng định rõ ràng, dứt khoát yêu cầu quân Mỹ phải rút ra khỏi miền Nam (thể hiện chủ trương "đánh cho Mỹ cút"), "Nhân dân Việt Nam kiên quyết đòi tất cả quân Mỹ và quân chư hầu của Mỹ phải rút hết sạch, chứ không phải chỉ rút 25.000 hoặc 250.000 hay là 50 vạn, mà phải rút hết, toàn bộ, không điều kiện"1.Sau đó hai tháng, ngày 2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời và để lại Di chúc cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Đảng đã kịp thời phát động cả nước "biến đau thương thành hành động cách mạng", kiên quyết thực hiện Di chúc của Người, tiếp tục đẩy mạnh kháng chiến chống đế quốc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.Đầu tháng 9-1969, địch tập trung lực lượng gồm Sư đoàn bộ binh 9, Lữ đoàn B thủy quân lục chiến, 4 tiểu đoàn biệt động quân, 4 giang đoàn thủy bộ, 3 giang đoàn xung phong, Hải đoàn 41 Mỹ (ở sông Đốc), Hải đoàn Hắc Giang (ở Năm Căn), 3 tiểu đoàn pháo binh, pháo bờ biển, 2 trung đoàn không quân, có B52 yểm trợ, tổ chức cuộc hành quân đánh phá và lấn chiếm U Minh lần thứ nhất. Địa bàn đánh phá của chúng đến tận sông Ông Đốc. Cùng lúc, chúng sử dụng một sư đoàn bộ binh đánh vào Mo So, Ba Hòn thuộc Rạch Giá để ngăn chặn đường vận động hành lang của ta từ biên giới về Khu 9.Ngày 26 tháng 9, địch đánh vào các khu vực Vĩnh Bình, Bình Minh, Kè Một, Từng Thơm của hai huyện Gò Quan, Vĩnh Thuận và tuyến sông Ba Đình. Cùng lúc bốn tiểu đoàn của Lữ B thủy quân lục chiến xuất phát từ căn cử Xẻo Rô tiến vào kênh thứ 11 thiết lập căn cứ mà chúng gọi là "Trung tâm hành quân U Minh".Trước khi địch mở cuộc hành quân này, Bộ Tư lệnh Quân khu cử đồng chí Nguyễn Đệ, Phó Tham mưu trưởng Quân khu dẫn một đoàn cán bộ xuống nam Cà Mau chuẩn bị chiến trường. Khi đoàn đến sông Ông Đốc thì gặp địch hành quân càn quét, ngăn chặn, không qua sông được phải quay trở về quân khu bộ. Sau khi nghiên cứu tình hình, đồng chí Nguyễn Đệ đề xuất ý kiến với Bộ Tư lệnh là cần phải diệt căn cứ trung tâm hành quân của địch để phá cuộc hành quân lấn chiếm U Minh của chúng. Bộ Tư lệnh chấp thuận và phân công đồng chí Nguyễn Đệ chỉ huy trận đánh này. Trung đoàn 1 (do đồng chí Ba Tôn làm Chỉ huy trưởng, Tư Bằng làm Chính ủy, Võ Văn Dần làm Chỉ huy phó) sử dụng Tiểu đoàn 231 của trung đoàn cùng với đại đội công binh quân khu tổ chức trận đánh tập kích vào trung tâm hành quân hỗn hợp của Lữ B thủy quân lục chiến đóng tại kênh thứ 11 (An Biên).Dưới sự chỉ huy của Bộ Tư lệnh Quân khu, ngay từ những ngày đầu, quân và dân U Minh Thượng đã chặn đánh các mũi tiến công của địch. Tiểu đoàn 9 thuộc Trung đoàn 2 đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn địch đổ quân bằng trực thăng tại kinh Tám Ngàn (huyện Thời Bình). Cơ quan hậu cần quân khu kết hợp cùng du kích hai xã Nguyễn Phích, Khánh Lâm (huyện Sông Đốc) đánh địch nhiều trận, chủ yếu bằng thuốc nổ, diệt và làm bị thương 74 tên, bắn rơi một máy bay trực thăng. Cơ quan phòng tham mưu quân khu tập kích tiêu diệt một đại đội thủy quân lục chiến địch tại Rọ Ghe (huyện An Biên, Rạch Giá). Một bộ phận pháo binh quân khu diệt "căn cứ hạm đội nổi" của địch ở vàm Sông Đốc. Du kích các xã trong U Minh bám đánh tiêu hao địch liên tục, gây cho chúng nhiều khó khăn.---------------------------------------------------------------1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tr. 592.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG - CHƯƠNG 6 PHẦN 1 | Câu chuyện thời hoa lửa