Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG - CHƯƠNG 6 PHẦN 2

Đại tướng Lê Đức Anh (1920–2019), bí danh Sáu Nam, là nhà lãnh đạo quân sự và chính trị cấp cao của Việt Nam, từng giữ chức Chủ tịch nước thứ 4 (1992–1997). Ông là vị tướng dày dạn trận mạc, có vai trò quyết định trong Chiến tranh biên giới Tây Nam và là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (1987-1991), người có công lớn trong bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ và đưa Việt Nam gia nhập ASEAN. Bài viết chia sẻ nội dung cuốn sách ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG Nhà xuất bản Chính trị Quốc g

Quảng Ninh29/03/2026Bùi Thị Thùy Linh (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Tiên Yên)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sáng ngày 5 tháng 11, máy bay B52 của địch ném bom rải thảm yểm trợ cho Trung đoàn 32 và 33 Sư đoàn 21 đánh phá, càn quét vào U Minh Thượng và chốt các vàm kinh. Ban Chỉ huy trận đánh lúc này cũng ở gần sở chỉ huy của Quân khu ở Rọ Ghe, nằm trong vòng vây và tâm hỏa lực phi pháo của địch. Hai trung đoàn 1 và 2 của ta cũng nằm trong vòng đánh phá của địch.

Nhưng tất cả vẫn kiên trì giữ vững đội hình chiến đấu theo kế hoạch vận động tiếp cận địch, nơi nào gặp địch chốt chặn thì ta bỏ xuồng lội bộ, luồn lách vòng tránh để tiếp tục hành quân bảo đảm đến vị trí chiến đấu đúng giờ nổ súng. Sở Chỉ huy Quân khu ở Rọ Ghe, cách cụm phòng ngự hỗn hợp của định chừng 3km.Đến 3 giờ sáng ngày 6-11-1969, ta đồng loạt nổ súng tiến công. Sau hai giờ chiến đấu, quân ta hoàn toàn làm chủ trận địa, đánh tan toàn bộ cụm phòng ngự hỗn hợp tại kênh thứ 11, diệt 680 trong tổng số 750 tên, đại tá lữ đoàn phó chết tại chỗ, đại tá lữ đoàn trưởng bị thương, trốn thoát; ta bắt sống 21 tên địch, diệt và đánh tan sở chỉ huy Lữ B thủy quân lục chiến cùng với ba đại đội trực thuộc Tiểu đoàn 4 thủy quân lục chiến, Giang đoàn 74 hải quân, pháo đội C..., phá hủy 8 tàu thủy, thu hàng chục máy thông tin vô tuyến điện và nhiều pháo, súng địch,...Cùng thời điểm này, bộ phận pháo binh và đặc công của ta đánh vào căn cứ Xẻo Rô, đánh chìm năm tàu; pháo kích vào Chi khu thứ 3, căn cứ sở chỉ huy Trung đoàn 32 Sư đoàn 21 địch tại Chi khu thứ 7, diệt nhiều địch. Ở phía nam, pháo binh Đoàn 6 bắn vào hai trận địa pháo của chúng ở Vàm Xáng và rạch Cái Bát, vừa kìm chế pháo địch, vừa phá hủy được bốn khẩu pháo và diệt nhiều tên địch. Ở vùng Châu Thành A - Rạch Giá (nay là huyện Hòn Đất), Sư đoàn 12 địch tổ chức hành quân càn quét đánh phá nhiều lần nhằm chiếm đóng vùng này để cắt đứt đường hành lang 1C của Quân khu lên biên giới.Lực lượng ta ở đây có cơ quan tiền phương tỉnh đội, đơn vị địa phương huyện, dân quân du kích và một bộ phận của Trung đoàn 10 Bộ Tư lệnh Miền tăng cường cho Quân khu. Quân địch vừa tiến công vừa bao vây phong tỏa khiến cho ta thiếu lương thực và đau ốm, cuộc chiến đấu ở đây vô cùng cam go, ác liệt. Nhưng các đơn vị quân ta vẫn bám trụ suất 78 ngày đêm.Đến ngày 18-11-1969, quân địch buộc phải rút lui khỏi Ba Hòn. Ta đã loại hàng nghìn tên địch, đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn; phá hủy nhiều xe bọc thép M113 và bắn rơi nhiều máy bay. Phối hợp với đòn tiến công của chủ lực Bộ Tư lệnh Quân khu chỉ đạo du kích của 10 xã thuộc bốn huyện căn cứ: An Biên, Vĩnh Thuận, Giồng Riềng và Thới Bình đẩy mạnh hoạt động, đánh nhỏ lẻ trên diện rộng nhằm tiêu hao sinh lực địch, phá hủy phương tiện chiến tranh của chúng. Ở huyện Gò Quan nổi lên các trận đánh, diệt tàu địch. Tiêu biểu là tổ công binh do đồng chí Nguyễn Văn Tư phụ trách, đã đánh chìm 36 tàu chiến, có 2 tiểu pháo hạm. Sau đó, đồng chí Tư được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.Các tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh, bằng "lực lượng ba mũi" tại chỗ (tiến công bằng quân sự - chính trị - binh vận) đã bao vây, tiến công nhiều đồn bốt, gỗ nhiều đồn, diệt nhiều địch. Có 142.000 lượt quần chúng tham gia đấu tranh chính trị. Mũi binh vận đã làm rã 2.400 binh lính địch.Bị thiệt hại nặng, ngày 6-11-1969, địch rút toàn bộ quân ra khỏi U Minh, kết thúc cuộc càn quét. Ta đánh bại kế hoạch bình định U Minh lần thứ nhất của chúng.Thắng lợi của đợt phản công đánh địch hành quân lấn chiếm U Minh lần thứ nhất đã chứng tỏ ta hoàn toàn có khả năng đánh bại các cuộc hành quân càn quét quy mô lớn của địch. Đồng thời đánh dấu bước đầu sự củng cố, xốc lại về tinh thần và tổ chức lực lượng của Quân khu để vượt qua những ngày khó khăn. Thắng lợi này cũng đã tạo sự nhất trí và gây được lòng tin trong nội bộ Đảng, trong bộ đội và quần chúng về chủ trương thực hiện chống lấn chiếm, phá bình định của địch.Biết rằng quân địch chưa từ bỏ âm mưu lấn chiếm U Minh, chúng tôi quyết định đưa Trung đoàn lên Long Mỹ, vùng địch mới tạm chiếm để làm nòng cốt củng cố và phát triển phong trào cách mạng, chuẩn bị địa bàn cho việc thu hồi vùng ruột Hậu Giang sau này. Trung đoàn 2 được sử dụng làm lực lượng cơ động, bố trí ở địa bàn vùng U Minh, sẵn sàng đánh địch hành quân lấn chiếm.Tháng 2-1970, địch sử dụng Lữ đoàn A thủy quân lục chiến và Sư đoàn 21 tổ chức hành quân tuyến An Biên. Sư đoàn 9 quân đội Sài Gòn và Thiết đoàn 9 hành quân đến vùng Vĩnh Thuận, mở cuộc lấn chiếm, bình định U Minh lần thứ hai.Quân khu sử dụng lực lượng du kích địa phương, du kích cơ quan và một bộ phận chủ lực bám địch, tổ chức đánh nhỏ, đánh liên tục, đồng thời khẩn trương củng cố, xây dựng lực lượng, chuẩn bị đánh phản công quy mô lớn.Sau đòn đánh chi đoàn xe M113 ở Vĩnh Hòa, tập kích xóa sổ một tiểu đoàn thủy quân lục chiến, đánh tan Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 16, Sư đoàn 9) tại đã Vĩnh Bình Nam, huyện Vĩnh Thuận, ngày 12-3-1970, Quân khu sử dụng Trung đoàn 2, tiểu đoàn đặc công của Khu và Đoàn 6 pháo binh tổ chức đánh tập kích tiêu diệt sở chỉ huy Chiến đoàn 33 tại kênh Họa Đồ, buộc địch phải rút chạy. Cuộc hành quân lấn chiếm U Minh lần thứ hai của địch thất bại.Đến lúc này, trong cấp chỉ đạo, lãnh đạo của Quân khu nổi lên hai cách nhìn, hai chủ trương khác nhau:Một là, trong xuân - hè và cả năm 1970, ta phải giải phóng được đại bộ phận vùng nông thôn, đưa bộ đội chủ lực Khu lên giải phóng Cần Thơ. Ở Vĩnh - Trà, Trung đoàn 3 lên phía nam và phía bắc sông Măng Thít mở trở lại vùng ruột Vĩnh - Trà, đánh bại mọi cuộc bình định của địch, tạo điều kiện giải phóng 2 triệu dân trong toàn khu.Chủ trương này có phần phiêu lưu mạo hiểm, dễ dẫn tới việc mất U Minh và Cà Mau, và nếu như vậy sẽ làm sa sút phong trào cách mạng của quần chúng.Hai là, sử dụng tất cả lực lượng hiện có kiên trì bám trụ, tiêu hao tiêu diệt quân địch, ngăn chặn từng bước và đánh bại âm mưu đánh chiếm U Minh của chúng; tạo điều kiện để khôi phục lại vùng kìm và vùng địch mới lấn chiếm; chuẩn bị những điều kiện cơ bản để giành lại địa bàn đông dân nhiều của ở phía trước. Có nghĩa là phải khôi phục lại lực lượng và phong trào du kích chiến tranh ở vùng địch kìm và mới bị lấn chiếm, ổn định tư tưởng và khôi phục lại cơ sở quần chúng cách mạng, đưa những cán bộ đã "ly hương" trở lại địa bàn nắm quần chúng và lực lượng vũ trang để tổ chức đánh địch. Đây là một chủ trương có bước đi thích hợp, rất cơ bản, bởi vậy nếu làm khẩn trương, tích cực cũng phải mất một năm.Cuộc đấu tranh giữa hai chủ trương đó kéo dài đến tháng 9-1970 mới đi tới nhất trí trong Hội nghị Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu ủy, có kết hợp thu thập ý kiến rộng rãi của bên dưới.Cuộc họp ở U Minh Hạ, vì địch càn, phải di chuyển tới ba lần, đủ thấy tình hình của Khu 9 còn khó khăn, vất vả tới mức nào.Tại hội nghị này Khu ủy đã ra nghị quyết cụ thể về việc bám trụ đánh địch, trong đó chỉ rõ: Lực lượng vũ trang phải bám dân, sống trong dân, làm chỗ dựa cho dân, cùng với dân hình thành lực lượng tổng hợp tiến công địch. Bộ đội tập trung phải gắn với dân quân du kích hình thành sự kết hợp chặt chẽ ba thứ quân thường xuyên tổ chức tiến công địch...Phải xây dựng, phát triển lực lượng, nhất là củng cố xây dựng bộ đội chủ lực mới tạo được điều kiện để phản công và mới phá được thế tiến công của địch.Thực hiện nghị quyết trên, Bộ Tư lệnh Quân khu đã phân công địa bàn bám trụ cho các đơn vị: Trung đoàn 1 ở Long Mỹ, Trung đoàn 3 tụ bám trên địa bàn then chốt giữa hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh. Các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần của Quân khu cũng có kế hoạch bám trụ và đánh địch. Tuy nhiên, việc bám trụ và đánh địch của các cơ quan trong Bộ Tư lệnh Quân khu trong tình hình hất sức căng thẳng. Lúc đó, Khu ủy cũng có ý kiến khuyên Bộ Tư lệnh Quân khu nên di chuyển cơ quan về nam Cà Mau để có điều kiện làm việc ổn định. Chúng tôi nhất trí nhận định rằng nếu chuyển về nam Cà Mau thì sẽ gặp trở ngại rất lớn làm giảm khí thế của bộ đội và ảnh hưởng đến phong trào chung. Đến khi cần chuyển trở lại sẽ càng khó khăn nhiều hơn. Vả lại, nếu ta rút địch sẽ lấn chiếm ngay.Ta lui về Cà Mau, địch lấn tới và theo đó sẽ mất đất, mất dân, không còn chỗ nào đứng chân nữa. Được sự đồng ý của Khu ủy, chúng tôi hạ quyết tâm bám trụ ở U Minh Thượng, tạo thế xen kẽ và tấn công địch bằng lực lượng tổng hợp trên cả ba vùng chiến lược. Đồng thời, triển khai sở chỉ huy tiền phương của quân khu ở Long Mỹ (Cần Thơ) gần sát đồn địch. Và tôi, Tư lệnh Quân khu, thường trực chỉ huy tại đây. Lội nước nhiều, bên chân trái vốn yếu từ nhỏ lại đau nhức, hành hạ tôi. Nhưng không thể không cố gắng vì phía trước là kẻ thù, hơn nữa trong mọi lúc, nhất là lúc gian khổ ác liệt, bao nhiêu con mắt của cán bộ, chiến sĩ cấp dưới đều nhìn vào Tư lệnh, người chỉ huy của họ.Việc bám trụ hết sức khó khăn, ác liệt. Địch đánh phá liên tục bằng các cuộc hành quân càn quét, bằng bom đạn, náy bay B52 rải thảm kết hợp với pháo từ hạm tàu của Mỹ bắn không ngớt suốt ngày đêm. Ở các xã vùng địch lấn chiếm, lúc đầu cán bộ thoát ly địa bàn, chạy sang xã khác, dần dần quay trở lại địa phương thực hiện ba bám (bám đất, bám dân, bám địch), khôi phục phong trào du kích chiến tranh. Thời kỳ này cán bộ đảng, cán bộ mặt trận đều cầm súng đánh giặc. Nhiều địa phương, bí thư chi bộ làm đội trưởng du kích, xây dựng các lõm căn cứ chiến đấu suốt thững năm ác liệt.Năm 1971, Bộ Tổng Tham mưu điều một số đơn vị từ miền Bắc vào chi viện cho chiến trường miền Nam, Quân khu 9 cũng được chi viện hai trung đoàn (Trung đoàn 10 và Trung đoàn 20), nhưng còn hoạt động ở Campuchia. Bộ Tư lệnh Quân khu tiến hành củng cố lại thế bố trí lực lượng chiến đấu. Khi bàn bạc trong Khu ủy, các đồng chí nhất trí bố trí Trung đoàn 3 ở Trà Vinh và Vĩnh Long, trong đó địa bàn trọng điểm là Vĩnh Long. Bộ Tư lệnh giao cho anh Nguyễn Đệ, Phó Tham mưu trưởng Quân khu trực tiếp làm Chỉ huy trưởng mặt trận Vĩnh - Trà. Anh Tư Đặng làm Chính ủy mặt trận. Ban Chỉ huy mặt trận chỉ huy Trung đoàn 3 và hai địa phương (Vĩnh Long - Trà Vinh) mở đợt tiến công mùa khô 1970 với mục tiêu là mở cho được vùng ruột Vĩnh - Trà, đưa Trung đoàn 3 trở lại đứng vững ở nam - bắc sông Măng Thít. Ban Chỉ huy Trung đoàn 3 do đồng chí Tư Thiện làm Trung đoàn trưởng (thay đồng chí Hai Sỹ về Quân khu bộ đồng chí Đinh Trung Thành làm Phó Trung đoàn trưởng và đồng chí Mười Trang làm Phó Chính ủy.Trung đoàn 1 do đồng chí Dương Tử làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Phạm Văn Trà làm Tham mưu trưởng, trung đoàn về U Minh rồi lên nam Long Mỹ. Hướng hoạt động là phải tiến lên Phụng Hiệp chứ không được lui.Trung đoàn 2 đứng chân ở một phần của Long Mỹ, một phần ở Ngang Dừa (Bạc Liêu).Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu đứng chân ở bên sông Cái Lớn. Sau khi xác định thế bố trí cho các đơn vị, cán bộ quân khu phải xuống tìm hiểu tình hình các đơn vị phía trước triển khai nhiệm vụ, nắm chắc thuận lợi, khó khăn và những vấn đề nôi cộm để chỉ đạo và giúp đỡ cấp dưới giải quyết. Mặc dù biết đây là công việc gian khổ và sẵn sàng chấp nhận thương vong nhưng các đồng chí Phó Tư lệnh Quân khu đều xung phong đi. Lúc đó tôi nói, để tôi trực tiếp đi xem tình hình tư tưởng bộ đội thế nào, thủ đoạn đánh phá và ý đồ của quân địch cụ thể ra sao. Tôi và đồng chí Tư Chức, Tham mưu trưởng Quân khu cùng đi. Cần vụ giúp việc là đồng chí Thọ. Hôm xuống Long Mỹ - Cần Thơ kiểm tra công tác chỉ huy và tổ chức chiến đấu ở Trung đoàn 1 thì máy bay địch oanh tạc bằng bom phá, bom phát quang và cả thùng bom hỗn hợp chất C4 để hủy diệt sở chỉ huy của Trung đoàn 1. Đồng chí Thọ đè lên người tôi để bảo vệ cho tôi. Hết đợt bom, chúng tôi ngồi dậy, thấy bầy trực thăng ầm ầm bay tới. Đồng chí Thọ đứng trên miệng hầm quan sát và bắn máy bay. Với mấy loạt súng tiểu liên AK, Thọ đã bắn rớt một chiếc máy bay chỉ cách chỗ hầm chúng tôi chừng 200m. Chiếc thứ hai cũng bị trúng đạn, bay loạng choạng rồi lao xuống đồn Thanh Lòng, cách chỗ chúng tôi chừng gần một cây số. Trong lúc máy bay của chúng lao đến cứu phi công của hai chiếc máy bay nói trên, đồng chí Thọ nhanh chóng đưa tôi vượt sông. Chúng tôi vận động đến Ban Chính trị của Trung đoàn lúc đó bố trí ngay sát hàng rào ngoài cùng đồn Đầu Lá của địch để nắm tình hình mọi mặt của Trung đoàn 1.Những năm tháng khốc liệt đó, trên địa bàn miền Tây Nam Bộ, trong vùng địch chiếm, chúng ra sức bắt thanh niên vào lính để đôn số quân lên.Một mặt, tùy từng nơi mà chúng cấp cho mỗi người dân từ một đến hai héc ta đất, rồi cấp giống và thuốc trừ sâu.Khi địch đi càn, huy động cả lực lượng Thiên Nga làm tâm lý chiến và biệt kích, bộ đội và du kích của ta vẫn đánh được Nhưng đồn bốt bằng xi măng, sắt thép và các khu tập trung của địch thì ban đầu ta chịu. Mà hình thức này là chủ trương chủ yếu của chúng, lúc đầu ta không lường hết được. Khi tác chiến, nếu ta tổ chức đánh theo đội hình chiến thuật kiểu "đầu nhọn đuôi dài", "bộc phá liên tục" để mở cửa thì tổn thất lớn mà không đánh được. Tôi nói với cán bộ các trung đoàn, tiểu đoàn hãy bàn bạc thảo luận tìm ra cách đánh. Lúc đó, ta đánh ngoài công sự dễ, đánh trong công sự thì khó. Anh em đề xuất dùng đặc công luồn vào đánh bộc phá chiếm đầu cầu. Đồng chí Nguyễn Trung Thành được rút từ Trung đoàn 3 ở Vĩnh - Trà về đảm trách việc huấn luyện cách đánh đặc công, đã làm rất tốt. Có đánh được đồn địch thì mới thực hiện được chủ trương kết hợp giữa đánh đồn với vây đồn, bức rút và bức hàng. Lúc đó, Trung đoàn tổ chức đánh thử và đánh được nên bộ đội rất phấn khởi.Phía định cũng thay đổi thủ đoạn. Bước đầu, chúng không tập trung lực lượng chủ yếu để mở cuộc hành quân ồ ạt như trước, mà phân tán từng tiểu đoàn chủ lực làm nòng cốt yểm trợ cho lực lượng bảo an đóng đồn. Đến tháng 8-1970, địch đóng mong nhiều đồn bốt ở vùng ven U Minh: Thúy Liễu, Vĩnh Phước, Vĩnh Tuy, Ninh Thạnh Lợi, Tân Lợi và các đồn dọc tuyến sông Cái Lớn: Nhà Ngang, Ba Đình, Cái Nước, dọc theo kênh Xáng Chắc Băng, Huyện Sử, Thời Bình ra Sông Đốc, hình thành vòng vây khép kín U Minh, chia cắt U Minh với phía trước và U Minh với phía nam Cà Mau.Đầu tháng 12-1970, địch sử dụng Sư đoàn 21, một bộ phận của Sư đoàn 9, hai liên đoàn biệt động quân (thay phiên nhau), Lữ đoàn B thủy quân lục chiến, Thiết đoàn 9 cùng lực lượng không quân, hải "quân hạm đội trên sông" của Mỹ và điều động các đơn vị bảo an từ các tỉnh An Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh,... mở cuộc hành quân lấn chiếm U Minh lần thứ ba. Rút kinh nghiệm từ những lần trước, lần này chúng lấn dần từng bước, lấn đến đâu đóng đồn đến đó.Bộ Tư lệnh Quân khu dùng Đoàn 6 pháo binh đánh thiệt hại nặng căn cứ Xẻo Rô, bắn cháy và bắn chìm 10 chiếc tàu, đội hình tiến quân của địch phải dừng lại để giải quyết hậu quả.Sáng ngày 5-12-1970, địch cho máy bay B52 ném bom rải thảm dọc rạch Mương Đào (An Biên) rồi hành quân bằng đội hình tàu thủy đóng căn cứ hành quân tại kênh thứ 9. Quân khu có ý định đánh thêm một trận nữa để diệt căn cứ trung tâm hành quân, làm thất bại kế hoạch lấn chiếm U Minh lần thứ ba của chúng. Nhưng lúc này tình hình ta rất khó khăn, không còn khả năng thực hiện. Quân địch triển khai xây dựng 11 căn cứ hỏa lực, chiếm hết căn cứ rừng tràm và chúng dự kiến sẽ hoàn thành vào tháng 11-1971.Tình hình Quân khu 9 lúc này đã khó khăn càng khó khăn hơn. Anh Kiệt và tôi day dứt khi nhìn thấy bộ đội thiếu ăn. Đạn dược cũng thiếu nghiêm trọng, nhất là đạn hỏa lực và thuốc nổ, đích thân tôi là Tư lệnh phải đứng ra phân phối từng viên đạn hỏa lực. Nhưng cũng chính lúc này, ý định chiến thuật "đặc công hóa bộ binh" lại phát huy tác dụng. Và để giảm bớt mức sử dụng đạn hỏa lực, các đơn vị phát động phong trào dùng vũ khí tự tạo từ bom đạn lép và súng đạn chiến lợi phẩm thu được của quân địch. Mỗi tỉnh phải cử một tiểu đoàn qua biên giới Campuchia cõng đạn về. Nhưng nhiều đơn vị trên đường về đụng độ với địch, phải chiến đấu liên tục nên khi về đến nơi đạn cũng bị hao hụt nhiều.Lúc này, hầu hết các đơn vị bộ đội chủ lực Miền đang hoạt động ở Campuchia. Do đó, địch rảnh tay điều động cả lực lượng tổng trù bị phối hợp với ba sư đoàn chủ lực tập trung bình định U Minh. Tình hình Quân khu lúc này vô cùng khó khăn. Có lúc tình thế nguy cấp, tôi phải điện cho Bộ Chỉ huy Miền đề nghị cho một bộ phận chủ lực trở về nội địa tham gia đánh địch bình định. Còn hai trung đoàn (Trung đoàn 10 và Trung đoàn 20) cho Quân khu thì Quân khu điều Trung đoàn 10 về đánh địch ở U Minh, Trung đoàn 20 đánh địch ở Giồng Riềng.Đến tháng 6-1971, địch lấn chiếm cơ bản U Minh Thượng, một phần U Minh Hạ và đang có kế hoạch lấp kín 17 đồn ở U Minh, sau đó mở rộng lấn chiếm nam Cà Mau. Nắm được ý đồ của địch, Bộ Tư lệnh Quân khu nhận định: Ta đang có nhiều khó khăn, nhưng nếu không kiên quyết chặn địch thì chúng sẽ lấp kín U Minh, mở rộng lấn chiếm Cà Mau và do đó tình thế sẽ xấu đi, khó lường hết. Nhưng, cũng thời điểm này, trên toàn chiến trường Đông Dương, ta đang giành thắng lợi lớn ở các chiến dịch: đường 9 - Nam Lào, Klachie, Snoul và vùng 3 biên giới. Từ nhận định đó, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu quyết định mở đợt phản công vào mùa mưa năm 1971 ở U Minh, ngay trong vùng trọng điểm bình định của địch, nhằm mục đích bẻ gãy kế hoạch đóng thêm đồn bốt của địch, cải thiện một bước trạng thái chiến trường, tạo điều kiện để tiến lên đánh bại quân địch ở U Minh; đồng thời đánh một đòn sôi động, tạo ảnh hưởng tốt về chính trị, quân sự, hỗ trợ trực tiếp phong trào tại vùng U Minh và các tỉnh lân cận.Mặc dù có chiến sĩ sợ địch đã ra hàng và khai báo vị trí đóng quân của Tiểu đoàn 7 và Trung đoàn 2. Địch dùng 12 máy bay trực thăng bất ngờ đổ quân xuống trước trận địa của Tiểu đoàn 7, nhưng Tiểu đoàn 7 và Trung đoàn 2 đã nhanh chóng hình thành thế bao vây, diệt gọn Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 33) của địch; đồng thời, trong ba ngày liên tiếp (từ ngày 7 đến 10-9-1971) đã đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn của Trung đoàn 31 đổ quân xuống cứu viện. Quân ta đánh bốn tàu địch trên sông Trẹm. Trung đoàn 10 diệt căn cứ Nỗng Cạn (ở xã Khánh Lâm) do sở chỉ huy nhẹ của Trung đoàn 32 đóng giữ, gần 600 tên địch bị thương vong.Đêm 8 tháng 9, Trung đoàn 20 đánh thiệt hại nặng căn cứ Rọ Ghe của địch. Đến ngày 12 tháng 9, quân địch buộc phải hủy bỏ kế hoạch "tô dày lấp kín U Minh".Để phối hợp với chiến trường U Minh, theo lệnh của Bộ Tư lệnh, Trung đoàn 1 ở Long Mỹ đã đánh quỵ 11 đại đội bao an, tạo điều kiện và tạo thế cho du kích hoạt động. Trung đoàn 3 ở Vĩnh - Trà cũng đã diệt được một số đồn bốt, tạo thế mới cho phong trào quần chúng. Tiểu đoàn 3 U Minh còn phối hợp với bộ đội và du kích huyện Cái Nước diệt năm đồn địch ở tuyến Bình Hưng, trên 11.000 dân trở về vườn cũ. Địch điều trực thăng đổ ba tiểu đoàn xuống giải tỏa. Trung đoàn 10 và đoàn vận tải của Khu đã đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn, bắn rơi 5 máy bay.Như vậy, cuộc phản công mùa mưa năm 1971 của Quân khu đã thu được thắng lợi. Tuy chưa thể cải thiện tình hình, nhưng thắng lợi của cuộc phản công đã có tác dụng cổ vũ, củng cố niềm tin của bộ đội và nhân dân miền Tây Nam Bộ vào thắng lợi của cách mạng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG - CHƯƠNG 6 PHẦN 2 | Câu chuyện thời hoa lửa