Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG - CHƯƠNG 6 PHẦN 5

Đại tướng Lê Đức Anh (1920–2019), bí danh Sáu Nam, là nhà lãnh đạo quân sự và chính trị cấp cao của Việt Nam, từng giữ chức Chủ tịch nước thứ 4 (1992–1997). Ông là vị tướng dày dạn trận mạc, có vai trò quyết định trong Chiến tranh biên giới Tây Nam và là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (1987-1991), người có công lớn trong bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ và đưa Việt Nam gia nhập ASEAN. Bài viết chia sẻ nội dung cuốn sách ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG Nhà xuất bản Chính trị Quốc g

Quảng Ninh29/03/2026Bùi Thị Thùy Linh (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Tiên Yên)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Thế nhưng quân địch không đủ khả năng mở rộng chiến tranh đồng thời ra khắp nơi, nên chúng thực hiện hòa hoãn ở nơi này, tập trung khả năng đánh nơi khác. Cuối cùng, nếu hàng làm được thì sẽ không từ bỏ nơi nào cả. Chúng sẽ không thi hành Hiệp định. Cứ như vậy thì chiến tranh sẽ kéo dài trong tình hình bất lợi cho ta, địch sẽ làm chủ được vùng nông thôn. Nếu xảy ra như vậy thì ta phải mở lại một cuộc tiến công chiến lược như năm 1972, tổn thất xương máu sẽ nhiều hơn, mà cách mạng sẽ dẫm chân tại chỗ một lần nữa, tình hình sẽ phức tạp hơn hồi năm 1968-1970. Nhận thức tình hình như vậy, tôi đề nghị lên trên:

1. Tình hình trước mắt vẫn có chiến tranh trong điều kiện có Hiệp định hòa bình. Nội dung chủ yếu của chiến tranh mà địch tiến hành là bình định lấn chiếm, giành dân, giành đất, đánh phá lực lượng cách mạng, củng cố, xây dựng lực lượng phản cách mạng. 2. Hiện ở hầu hết vùng đồng bằng sông Cửu Long, địch đang dùng bộ máy quân sự, cảnh sát, bằng biện pháp phát xít chiến tranh để đánh vào dân, kìm kẹp dân. Như thế sẽ khó thực hiện phương thức đấu tranh chính trị là chủ yếu, quân sự đánh có mức độ. Do đó, đề nghị phương châm chiến lược trước mắt ở chiến trường miền Nam là quân sự, chính trị kết hợp với pháp lý của Hiệp định. Đến khi nào địch chịu ngừng bắn về cơ bản thì sẽ thay đổi phương châm. Về phương châm hành động hằng ngày, đề nghị thêm chữ tiến công để đủ nội dung tư tưởng cách mạng tiến công. Tiến công địch để giành dân, giành quyền làm chủ; giành dân, giành quyền làm chủ để tiến công địch. Ở đồng bằng sông Cửu Long thêm hai chữ "giành đất". 3. Về hướng tiến công, đề nghị hướng tiến công chủ yếu là vùng tranh chấp đông dân, nhiều của, kết hợp với thọc sâu chuyển biến vùng kìm kẹp, kết hợp với giữ vững củng cố, xây dựng vùng giải phóng. 4. Về phương thức tiến công, đề nghị đánh nhỏ, đánh vừa, đánh để giành dân, lấn đất, chưa cần đánh nổi cộm, chưa cần mở chiến dịch tập trung nổi cộm, đồng thời chuẩn bị những chiến dịch lớn, những đợt tiến công lớn để khi cần thì tiến hành đánh thật đau. 5. Về đối tượng tiến công của ba thứ quân (gồm cả chủ lực cấp trên) là đánh thẳng vào quân kìm kẹp địa phương của địch, đánh thẳng vào cơ sở hạ tầng của địch, kết hợp với đánh tiêu diệt từng tiểu đoàn chủ lực, các đầu não chỉ huy và các kho dự trữ của địch đang trực tiếp hành quân. Đề nghị bố trí các binh chủng nặng như pháo binh, xe tăng..., các đơn vị bộ binh dự bị ở trong vùng giải phóng, các trung đoàn và sư đoàn bộ binh đều chuyển ra vùng tranh chấp, vùng đông dân, thực hành kết hợp tác chiến, huấn luyện và binh vận, sản xuất cải tạo địa hình. 6. Về công tác binh vận, đề nghị lấy đánh vận động làm tan rã liên tục, làm cho thành phần binh sĩ địch liên tục không ổn định làm nội dung chủ yếu, kết hợp với kiên trì xây dựng cơ sở cách mạng trong quân đội địch để làm nòng cất cho binh biến khởi nghĩa trong tương lai. 7. Về lực tượng chính trị, đấu tranh chính trị trước mắt là đấu tranh bung về ruộng vườn, đấu tranh để chống bắt lính, đấu tranh chống vơ vét cướp bóc, đấu tranh để làm tan rã binh lính địch và thường xuyên phối hợp với lực lượng vũ trang đấu tranh để giành và giữ quyền làm chủ. Trên cơ sở đó, xây dựng, củng cố từng bước lực lượng chính trị, chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang và tiến hành vũ trang khởi nghĩa. Những đề nghị trên đây cũng là nội dung chỉ đạo của Quân khu 9 trong phạm vi địa phương mình từ sau ngày 28-1-1973. Đầu tháng 9-1978, địch vẫn tiếp tục kế hoạch bình định lấn chiếm. Lần này, chúng chỉ yêu cầu lấn chiếm Chương Thiện và phong tỏa U Minh. Trước hết là hòa hoãn với khu vực mới lấn chiếm ở vùng Ba Hồ, đồng thời mở mũi lấn chiếm xuống tây nam Long Mỹ. Cùng lúc, địch đề ra kế hoạch cướp lúa. Hai kế hoạch này chồng lên nhau, chúng gọi là "Kế hoạch Trần Khánh Dư". Về bố trí sử dụng lực lượng, địch vẫn duy trì Sư đoàn bộ binh 7 ở khu vực Tiền Giang, chủ yếu yểm trợ lấn chiếm Vùng 4 Kiến Tường, Sư đoàn 9 yểm trợ cướp lúa ở Bạc Liêu và Sóc Trăng, Sư đoàn 21 chịu trách nhiệm các tỉnh Chương Thiện, Rạch Giá và Cà Mau. Ở các vùng kìm và đô thị, chúng phát động chiến dịch gọi là "quét lá rừng" nhằm đánh phá cơ sở cách mạng và bắt lính. Trên cơ sở nắm được ý đồ và kế hoạch của địch, Bộ Tư lệnh Quân khu 9 quyết tâm đánh bại kế hoạch lấn chiếm và cướp lúa của chúng. Về phương thức hoạt động, Quân khu chủ trương: chống lấn chiếm kết hợp với chống cướp lúa, kiên định nguyên tắc bám trụ vững chắc kết hợp cơ động tiến công. Địa bàn trọng điểm của Quân khu vẫn là vùng ruột Hậu Giang (Chương Thiện). Các tỉnh phải hình thành cho được kế hoạch tiếp công rộng khắp, căng kìm địch không để cho chúng dồn lực lượng về trọng điểm của Quân khu.Trung tuần tháng 9, các trung đoàn đang tổ chức chỉnh huấn cho cán bộ trung, sơ cấp thì được tin địch hành quân lấn chiếm tây nam Long Mỹ và phong tỏa U Minh, thời gian có thể từ ngày 12 đến 15 tháng 9. Bộ Tư lệnh Quân khu quyết định mở đợt tiến công địch. Đợt hoạt động bắt đầu từ đoàn 10 tiến công đồn Chùa Miên và Xeo Chích (sát tây Chi khu Ngã Năm). Hai ngày sau, địch đưa hai tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 16 Sư đoàn 9 và một chi đoàn thiết giáp đến giải tỏa. Cùng lúc, bộ đội địa phương huyện Thạnh Trị và du kích xã hoạt động mạnh ở vùng Mỹ Quới bao vây các đồn Láng Sơn, Mỹ Tho thuộc quân bảo an của Chi khu Ngã Năm đi giải tỏa. Tin tức các địa phương liên tiếp báo cáo về: từ ngày 10 đến 13 tháng 9, Tiểu đoàn 2 bộ đội địa phương tỉnh Sóc Trăng tiến công căn cứ số 1, đánh Tiểu đoàn bảo an 428 đi cứu viện suốt mấy ngày liền; sau đó, gài thế đánh một trận phục kích, làm thiệt hại nặng Tiểu đoàn bảo an 428, buộc chúng phải băng đồng tháo chạy,... Trung đoàn 15, Sư đoàn 9 địch phải đổ quân đối phó. Cùng thời gian trên, chúng tôi lệnh cho Trung đoàn 1 tiến công mạnh khu vực Lái Hiếu và cho một bộ phận thọc sâu, lấn sát thị xã Vị Thanh, buộc địch phải đưa một tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 21 và một chi đoàn xe M113 lên chi viện cho Vị Thanh. Ở khu vực Giồng Riềng, do tác động của Trung đoàn 20, địch phải đưa Trung đoàn 31 Sư đoàn 21 và chi đoàn xe M113 đến giải tỏa. Các tỉnh trong quân khu đều tiến công căng kìm địch, làm cho kế hoạch lấn chiếm và cướp lúa của địch bị phá vỡ, chúng phải phân tán lực lượng đối phó với ta khắp nơi.----------------------------------------------------------------- 5. Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) được tiến hành trong hai đợt: đợt I từ ngày 19 tháng 6 đến 6-7-1973 và đợt II từ ngày 1 đến 4-10-1973. 6, 7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, 2004, t. 34, tr. 236. 237. Tháng 10-1973, địch lại chuẩn bị hành quân ở tây nam Long Mỹ, đồng thời có một cánh quân đánh vào U Minh ở khu vực nam sông Cái Lớn. Chúng tập trung đến các tuyến xuất phát hành quân như Hỏa Lựu, Gò Quao, Long Mỹ. Riêng tại Chi khu Gò Quao có đến bốn sở chỉ huy cấp trung đoàn. Ngày 6-10-1973, địch chưa kịp hành quân thì Quân khu tập trung pháo đánh mạnh vào Chi khu Gò Quao, cả bốn sở chỉ huy đóng ở đây đều bị thiệt hại nặng, hư một tàu tại bến. Đêm sau, ta sử dụng đặc công đánh bồi làm chìm năm tàu nữa. Địch phải giải quyết hậu quả, đưa số còn sống sót và binh lính bị thương về Vị Thanh. Trung đoàn 10 ở tây nam Long Mỹ tiến công diệt bốn đồn ở xã Vĩnh Thuận Đông (sát chi khu), đồng thời pháo kích, uy hiếp mạnh trung tâm hành quân ở Chi khu Long Mỹ. Địch vội vã điều Trung đoàn 15 Sư đoàn 9 đang đối phó với ta ở Sóc Trăng về giữ Chi khu Long Mỹ. Trung đoàn 20 kìm chân địch ở tuyến sông Cái Bè, đánh bốn trận, tập kích liên tục vào Trung đoàn 9 thiết giáp, diệt bốn chi đoàn xe M113 và đánh thiệt hại nặng hai chi đoàn khác (phá hủy 22 xe M113). Một lần nữa, trong tháng 10-1973, địch vẫn không thể thực hiện được kế hoạch. Đầu tháng 11-1973, địch điều thêm lực lượng hải quân Trần Hưng Đạo số 44, từ căn cứ Cát Lái (Sài Gòn) tăng cường cho hải quân Vùng 4 chiến thuật; rút thêm nhiều tiểu đoàn bảo an ở các tỉnh Bến Tre, Gò Công, An Giang, Châu Đốc, nâng tổng số tiểu đoàn ở khu vực Chương Thiện lên đến 75 tiểu đoàn (75 tiểu đoàn và tương đương, kể cả các tiểu đoàn bộ binh, pháo binh, giang đoàn,...) chuẩn bị cho cuộc hành quân tháng 11 đánh vào Chương Thiện. Ngoài ra, địch còn tăng thêm dự trữ đạn pháo vào U Minh, Sóc Trăng và Bạc Liêu. Quân khu 9 phải đương đầu với thử thách mới hết sức nặng nề và quyết liệt. Ngày 6-11-1973, Thường vụ Khu ủy và Quân khu ủy họp, chủ trương: phát huy thế chủ động và tư tưởng tiến công, kiên quyết bẻ gãy cuộc hành quân tháng 11 của địch, bảo vệ căn cứ, đồng thời tích cực chuẩn bị kế hoạch để chuyển sang tiến công trong mùa khô tới... Dưới sự chỉ huy của Bộ Tư lệnh, các lực lượng vũ trang Quân khu 9 đã anh dũng chiến đấu. Điển hình là Trung đoàn 1, bộ đội ta đứng chân trên hai bờ kênh, hai bên là đồng trống, 1.000 quân đấu với trên 1 vạn quân địch cộng với phi pháo, tàu thuyền, chất độc hóa học tăng cường. Lúc đó, tôi nói: Bom đạn ác liệt thế này, chết là chuyện thường, sống mới kỳ! Về sau anh em cứ nhắc lại mãi câu này. Anh em đã dùng chiến thuật vận động là chủ yếu để đánh địch, kết hợp với quần chúng, các má, các chị làm binh vận, kêu gọi quân lính rã ngũ. Khi địch dùng trực thăng đổ bộ cấp tập 15.000 quân xuống Ba Hồ (Giồng Riềng), Trung đoàn 20 chịu trách nhiệm hướng này, bị địch uy hiếp mạnh. Trung đoàn 20 đã tự rút lui, bỏ Ba Hồ, mặt trận này bỗng nhiên bị bỏ trống. Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu đã khiển trách Ban Chỉ huy Trung đoàn 20, ra lệnh và hướng kế hoạch cho trung đoàn trở lại bám địa bàn Ba Hồ. Trung đoàn 20 chỉ rút ra có mấy ngày mà trở lại rất khó khăn, gian khổ, nhưng trung đoàn vẫn thực hiện đúng kế hoạch. Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu ra lệnh cho tất cả lực lượng trên chiến trường toàn khu đẩy mạnh hoạt động, nhất là các cánh quân ở Lái Hiếu, nam - bắc sông Măng Thít thuộc Vĩnh - Trà, v.v. để hỗ trợ cho trọng điểm Chương Thiện nói chung, cho Trung đoàn 20 nói riêng. Cuộc hành quân tháng 11-1973 của địch bị bẻ gãy hoàn toàn. Từ đây địch chấm dứt bình định lấn chiếm Chương Thiện. Lực lượng vũ trang ba thứ quân trên địa bàn Quân khu 9 đều đánh giỏi, điển hình là Trung đoàn 1 do đồng chí Phạm Văn Trà chỉ huy. Trong suốt quá trình đánh địch bình định, 1.000 quân của Trung đoàn cùng với lực lượng địa phương đã quần nhau với hơn 1 vạn quân địch trong phạm vi 20km với những trận đánh diễn ra vô cùng ác liệt, giành giật nhau từng khu vực, từng đoạn sông. Lúc đó đồng chí Sáu Bé, Bí thư Chi bộ xã Phương Phú đã ngày đêm có mặt ở sở chỉ huy của Trung đoàn để cùng Ban Chỉ huy Trung đoàn lãnh đạo và tổ chức lực lượng ba thứ quân, thực hiện tiến công quân địch trên cả ba mũi quân sự, chính trị và binh vận, giành thắng lợi vẻ vang. Đồng chí Phạm Văn Trà sau đó được phong danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nay là Đại tướng, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Pháo binh của Quân khu lúc đó do đồng chí Tư Niên chỉ huy cũng đánh rất giỏi. Anh em đã đánh tàu địch trên sông, đánh căn cứ, đồn bốt của địch và còn tổ chức phục kích, tập kích địch khi chúng hành quân dã ngoại. Còn bên chính trị có đồng chí Sáu Hoài, Chủ nhiệm chính trị, đồng chí Đoàn Cẩm Thính và đồng chí Ba Ròn - Phó Chủ nhiệm chính trị Quân khu, không chỉ giỏi công tác chính trị mà còn giỏi tổ chức cơ quan bám trụ đánh địch. Trong hoàn cảnh bảo đảm hậu cần rất khó khăn, nhưng ngành hậu cần Quân khu đã sáng tạo, dũng cảm và trách nhiệm, giải quyết tốt mọi việc, từ tiếp nhận, vận chuyển hàng hóa từ miền Bắc đưa vào, đến việc thu mua và khai thác nguồn hậu cần tại chỗ, kể cả việc tổ chức tăng gia sản xuất lương thực, thực phẩm, quân trang, quân dân, phương tiện và thuốc quân y, vũ khí quân giới..., mà đứng đầu ngành là các đồng chí Hai Nhường, Năm Đốm, Bảy Lúa, Ba Lò Rèn, v.v.. Đến đây, trên địa bàn Khu 9, kế hoạch "tràn ngập lãnh thổ" của Nguyễn Văn Thiệu cơ bản đã bị phá sản. Giữa tháng 11, chúng tôi nhận được điện của Trung ương gọi ra báo cáo. Khu ủy Khu 9 cử anh Võ Văn Kiệt đi. Sau đó, trên gọi tiếp tôi ra báo cáo. Trước khi đi, tôi dặn các anh ở nhà quyết không lui mà chỉ có tiến lên, Trung đoàn 1 phải tiến lên quốc lộ 4 rồi đánh lên; Trung đoàn 20 cũng vậy, các đơn vị khác cũng vậy, cứ nhằm Ô Môn tiến lên. Sau này tôi mới biết, cũng chính lúc đó, ở trên R có người đề nghị Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền thi hành kỷ luật tôi vì "vi phạm Hiệp định, làm trái ý trên". Nhận được điện của Trung ương gọi ra báo cáo, tôi đi thẳng ra miền Bắc. Lúc đi giữ bí mật tuyệt đối, tàu vào rạch đón rồi lặng lẽ đi luôn. Anh Võ Văn Kiệt giao lại công việc cho anh Vũ Đình Liệu (tức Tư Bình). Tôi giao nhiệm vụ chỉ huy Quân khu cho anh Lê Ngọc Hưng. Hai người đi hai thời điểm cách nhau một thời gian, đều rất bí mật. Anh Kiệt đi bằng đường bộ. Tôi đi bằng đường thủy bị trục trặc. Trước đó, vì những con tàu vỏ thép của đoàn tàu không số đã bị địch phát hiện, chúng săn và đánh dữ dội, ta tổn thất nhiều nên lần này các đồng chí đưa tôi vượt biển, nhưng đi bằng hai thuyền đánh cá bằng gỗ loại nhỏ đã cũ; chiếc chở tôi là tàu số 59 thuộc Đoàn 371 Quân khu 9 do đồng chí Nguyễn Văn Bảy làm trưởng tàu, đồng chí Nguyễn Hồng Nghi làm thông tin báo vụ, đồng chí Kỷ là thợ máy tàu. Mỗi thuyền chở năm người, do đồng chí Tư Mâu chỉ huy chung. Đồng chí Tư Mâu là người chuyên tổ chức vận chuyển vũ khí từ Bắc bằng tàu "đánh cá" vào Nam, sau này được phong Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; khi chuyển ngành ra ngoài làm Thứ trưởng Bộ Hải sản. Ngày 24-11-1973, các đồng chí lái tàu xin ý kiến tôi nên đi như thế nào. Tôi nói với các đồng chí đó về hướng đi. Đồng chí Mâu cho thuyền lặng lẽ nhổ neo. Đi được một chặng thì gặp gió to, nước tràn vào thuyền, thuyền bị thủng và chìm, những người trên thuyền phải dồn tất cả lên chiếc thuyền còn lại. Khi ra đến ngang Vũng Tàu thì quyết định tạt vào bờ cho một số người ở lại. Nhưng đến đây, lại xảy ra một chuyện phức tạp. Một chiến sĩ đào ngũ, tối đến không thấy về. Mọi người sốt ruột, trong khi gió vẫn rất to. Tôi quyết định cứ nhổ neo và đi. Ra ngoài khơi, gió mạnh đã thổi dạt thuyền của chúng tôi đến đảo Hải Nam, Trung Quốc. Sau đó Hải quân Trung Quốc thông báo cho hải quân ta sang đón và đưa về cảng Hải Phòng. Chúng tôi đã vượt qua sóng to, gió lớn, vượt qua hiểm nguy, đi mất bảy ngày đêm.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn