Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG - CHƯƠNG 7 PHẦN 1

Đại tướng Lê Đức Anh (1920–2019), bí danh Sáu Nam, là nhà lãnh đạo quân sự và chính trị cấp cao của Việt Nam, từng giữ chức Chủ tịch nước thứ 4 (1992–1997). Ông là vị tướng dày dạn trận mạc, có vai trò quyết định trong Chiến tranh biên giới Tây Nam và là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (1987-1991), người có công lớn trong bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ và đưa Việt Nam gia nhập ASEAN. Bài viết chia sẻ nội dung cuốn sách ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG Nhà xuất bản Chính trị Quốc g

Quảng Ninh29/03/2026Bùi Thị Thùy Linh (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Tiên Yên)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chương 7

CHỈ HUY CHIẾN DỊCH CUỐI NĂM 1974, GIẢI PHÓNG TỈNH PHƯỚC LONGSau bảy ngày đêm vượt biển Đông từ Nam ra Bắc, về đến Hà Nội, tôi nghỉ ở nhà số 91 phố Lý Nam Đế. Mấy đồng chí cán bộ bên Tổng cục Chính trị và Cục Cán bộ ra thăm tôi. Anh Văn Tiến Dũng gặp tôi, câu đầu tiên anh hỏi:- Có mệt không?- Có mệt - Tôi cười và đáp.- Cậu như con voi một ngà - Anh Dũng nói.- Cũng chỉ còn một mắt bảy phần mười - Tôi nói.- Về sức khỏe thì cậu cố gắng thêm. Cậu về nắm chắc tình hình và bàn với hai anh Phạm Hùng và Trần Văn Trà để triển khai công việc. Công việc thì các anh đó biết cả rồi. Có thể sắp tới các anh ấy cũng ra họp... - Anh Dũng nắm chặt tay tôi nói.Bên Trung ương làm bữa cơm, gọi tôi sang. Khi ăn có các anh Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng và Lê Đức Thọ. Ăn xong, anh Thọ nói:- Báo cáo tình hình xong, thì cậu về Miền ngay.Anh Duẩn gặp riêng tôi, dặn:- Về nói với anh Hùng, anh Trà, bàn trong nội bộ phải giải phóng nhanh nhất. Nếu để chậm thì nó lại hồn, nó củng cố sẽ rất khó. Anh nói hai lần: "Nó lại hồn, sẽ rất khó".Rồi anh bảo tôi sang báo cáo tình hình với Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng.Tôi sang chào Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Bác Tôn nói:- Các chú giải phóng nhanh miền Nam để bác được về thăm đồng bào, chiến sĩ miền Nam, thăm quê Long Xuyên và thăm lại xưởng Ba Son.Báo cáo xong, tôi chuẩn bị trở về Miền. Hôm sắp đi, anh Hoàng Văn Thái gặp và bảo:- Cậu nói giúp, để các ông cho mình trở vào Miền.- Chuyện của anh phải Bộ Chính trị quyết định, tôi làm sao nói được - Tôi trả lời anh.Tôi đến chào anh Nguyễn Hữu Thọ, anh Thọ mời tôi ăn cơm. Sau đó anh Hoàng Văn Thái, rồi anh Võ Nguyên Giáp mời tôi đến ăn cơm. Tôi lần lượt đến chỗ hai anh ăn cơm.Lúc sắp chia tay gia đình, con trai tôi là Lê Mạnh Hà nói:- Ba ơi! Con muốn đi bộ đội, nối nghiệp ba.- Tới đây đất nước hòa bình, xây dựng, sẽ cần nhiều cán bộ khoa học. Con nên đi vào một ngành khoa học, còn ngành nào thì tùy con chọn. Nhưng trước hết con phải phấn đấu trở thành người tốt, sống có lý tưởng và có ích cho xã hội - Tôi khuyên con.Trở về miền Nam, tôi được anh Đồng Sỹ Nguyên - Tư lệnh Bộ đội 559 - tổ chức đi theo đường Đông Trường Sơn. Vào đến Đông Hà - Quảng Trị, gặp anh Trần Độ từ Miền ra, tôi hỏi:- Anh ra thì ai thay?Anh im lặng không nói gì, sau đó anh bảo:- Sau khi có Hiệp định Paris, tình hình phức tạp quá. Khi anh Tố Hữu vào phổ biến thì tin ở Trung ương.Tôi bảo:- Tin ở Trung ương là đúng, nhưng phải phản ánh đúng thực tế chiến trường với Trung ương và phải kết hợp hai vấn đề đó lại.Anh bảo giờ anh ra Bắc. Tôi bắt tay chào anh, thấy anh không vui, tôi cũng không hỏi vì sao anh ra.Anh em giao liên đưa tôi đi, vào đến sát đồn Phú Túc của địch, đi theo sườn núi. Tôi thấy đường Đông Trường Sơn đã mở thông thoáng.Vào tới Miền, không thấy ai nhắc chuyện tôi “ra tòa", mà ngày 16-4-1974, Chủ tịch nước ký quyết định thăng quân hàm cho tôi từ cấp Đại tá lên cấp Trung tướng. Ý của anh Trần Văn Trà là tôi làm Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy Miền. Tôi bảo cứ để anh Nguyễn Minh Châu (tức Năm Ngà) làm Tham mưu trưởng, tôi làm Phó Tư lệnh và ý kiến của tôi được các anh chấp thuận. Lúc này, anh Phạm Hùng làm Bí thư Trung ương Cục, anh Trần Văn Trà làm Tư lệnh Bộ Chỉ huy Miền, anh Lê Văn Tưởng (tức Hai Tưởng) thay vị trí của anh Trần Độ làm Phó Chính ủy Bộ Chỉ huy Miền.Theo lời dặn của anh Lê Duẩn và anh Văn Tiến Dũng, tôi gặp và báo cáo với hai anh Phạm Hùng và Trần Văn Trà. Anh Trà bảo:- Nắm tình hình xong, căn cứ vào ý kiến chỉ đạo của anh Lê Duẩn và anh Văn Tiến Dũng, cậu làm kế hoạch đi. Sau khi Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền có ý kiến là triển khai luôn.Anh Hùng cũng bảo tôi:- Làm sớm đi.Khi xây dựng kế hoạch tác chiến, tôi có bàn với hai anh Năm Ngà và Hai Tưởng; kế hoạch có ba nội dung:Thứ nhất, xây dựng lực lượng ở các đô thị và vùng ven đô. Vì sau Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, lực lượng ta (cả đặc công và biệt động) bị tổn thất nặng và đã ra khỏi đô thị, giờ phải triển khai xây dựng trở lại để ém quân ở đô thị, hoạt động trong lòng đô thị.Thứ hai, mở vùng giải phóng ra hướng Long An, kể cả vùng nam Long An như Cần Giuộc, Cần Đước, Gò Công, Châu Thành, Tân Trụ, Chợ Gạo và Tiền Giang, tức là cả phía nam và phía bắc lộ 4. Kể từ Tây Ninh xuống Đức Hòa, Đức Huệ, nam - bắc lộ 4 thì khó nhất là mở hướng này. Nếu nói đến đồng bằng sông Cửu Long thì đây là hướng trọng điểm của kế hoạch đồng bằng. Ta mở vùng và đứng vững được ở đây thì sẽ ngăn chặn rất hiệu quả sự liên thông của địch từ Sài Gòn xuống miền Tây. Ngược lại, phía ta sẽ nối thông từ chiến khu Dương Minh Châu, miền Đông với đồng bằng sông Cửu Long.Thứ ba, mở rộng đường hành lang Trường Sơn. Vì Trung ương đã mở thông đường Đông Trường Sơn rồi, nay ta phải thông nốt, nối liền từ miền Đông Nam Bộ tới đó, trọng điểm là hai trục đường 14 và 20. Còn hướng sông Lòng Tàu thì Đoàn 10 đã làm tốt, vả lại lúc đó hướng này chưa nổi cộm nên không đặt vấn đề là hướng chính.Các đơn vị chủ lực của Miền bắt đầu huấn luyện và hoạt động tác chiến theo hướng mới. Nhưng thực trạng lúc này, bộ đội đánh tập kích thì được nhưng đánh công kiên lại chưa ổn. Điển hình là trận đánh đồn Rạch Bắp nằm trên lộ 7, ta dùng một trung đoàn bộ binh có xe tăng và lựu pháo đánh hai ngày liền mà không dứt được đồn. Tôi đề nghị với anh Trà cho bộ đội tập huấn lại. Nếu cứ đánh kiểu đội hình “đầu nhọn đuôi dài, bộc phá liên tục” để mở cửa mở thế trận phòng thủ của địch thì e không được, mà có được cũng thương vong lớn, hoặc tiến công theo đội hình xe tăng đi trước bộ binh theo sau, trong khi hỏa lực nói chung, hỏa lực chống tăng nói riêng của địch rất mạnh thì không thành công. Kế đó, tôi mời hai anh Bùi Cát Vũ và Lương Văn Nho trong Bộ Chỉ huy Đoàn 351 đến, hôm đó có cả anh Năm Ngà – Tham mưu trưởng Miền và anh Hoàng Cầm – Phó Tư lệnh Miền. Tôi bảo bây giờ ta hãy tập huấn cho bộ đội cách đánh cùng một lúc tiến hành mở hai cửa mở. Một cửa mở bằng lối dùng đặc công bí mật luồn sâu gỡ cắt hàng rào, một cửa dùng pháo binh bắn chế áp lô cốt và hỏa điểm của địch rồi dùng bộc phá phá hàng rào, pháo binh bắn yểm trợ cho bộ đội xung phong, mục tiêu là tiêu diệt chi khu quân sự của chúng và lấy Chi khu Đồng Xoài làm đối tượng thực tế để luyện tập. Hai anh đã về xây dựng sa bàn trên thực địa với đầy đủ các chi tiết và tập huấn cho cán bộ ở cả ba cấp: đại đội, tiểu đoàn và trung đoàn. Cuộc tập huấn kỹ càng diễn ra suốt ba tháng tại Đồng Pan trong chiến khu Dương Minh Châu.Nhờ có sự chỉ đạo đúng đắn của Đảng từ sau Hội nghị Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương tháng 5-1973, nhất là từ sau Hội nghị Trung ương lần thứ 21 (tháng 6-1973) và Quân ủy Trung ương (tháng 3-1974), cục diện chiến trường từ cuối năm 1973 và năm 1974 đã chuyển biến theo chiều hướng có lợi cho ta. Ta đã chủ động đưa thế và lực cách mạng tiến lên từng bước vững chắc, bằng cách phản công và tiến công liên tục, giành thắng lợi ngày càng lớn với tốc độ nhanh trên tất cả các chiến trường từ Khu 9, Khu 8, Khu 7, Khu 6, Khu 5, Tây Nguyên đến Trị Thiên; trên tất cả các mặt trận từ đánh phá bình định, mở vùng giành dân ở đồng bằng, mở rộng căn cứ ở miền núi và vùng giáp ranh làm bàn đạp đến kéo dài thêm hành lang chiến lược từ miền Bắc vào tận miền Đông Nam Bộ,...Đến giữa năm 1974, sau hơn một năm thi hành Hiệp định Paris, hình thái chiến trường miền Nam đã và đang diễn ra một cuộc chiến tranh cách mạng bằng cả quân sự và chính trị chống lại một cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới do quân đội và chính quyền Sài Gòn tiến hành dưới sự chỉ huy của Mỹ. Lúc này, địch đang bị động và sa sút toàn diện1, tình hình quốc tế có nhiều thuận lợi, đồng thời cũng có những diễn biến phức tạp.Tháng 1974, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng, gợi ý và hướng dẫn Bộ Tổng Tham mưu khởi thảo kế hoạch đánh giá tình hình trong nước và quốc tế, nắm bắt thời cơ chiến lược, nhạy bén, kịp thời đề xuất chủ trương chuẩn bị và tiến hành giải phóng miền Nam.Sau khi có Nghị quyết 21 của Trung ương ghi nhận thành quả của hơn một năm ta đẩy mạnh đấu tranh vũ trang hỗ trợ trực tiếp cho đấu tranh chính trị và binh vận, bắt quân địch phải thi hành Hiệp định và chặn đứng một cách cơ bản kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ” của chúng, thì thế và lực của ta được củng cố và phát triển một bước mới. Từ thế và lực mới này, chúng ta đã vạch ra kế hoạch tiến công mùa khô 1974-1975, tiến tới tổng tiến công và nổi dậy. Trong khi đó, tình hình kinh tế, chính trị, quân sự của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu vào cuối năm 1974 sa sút nghiêm trọng. Để có "quả đấm chủ lực mạnh" cho cuộc tấn công và nổi dậy, ngày 20-7-1974, tại Hội nghị quân chính ở căn cứ Dương Minh Châu, đồng chí Phạm Hùng, Bí thư Trung ương Cục, công bố quyết định thành lập Quân đoàn 4. Sự kiện này đánh dấu một bước trưởng thành mới của chủ lực Miền. Quân đoàn 4 gồm: hai sư đoàn bộ binh (7 và 9), Trung đoàn pháo binh 24, Trung đoàn phòng không 71, Tiểu đoàn đặc công 429, Trung đoàn thông tin 69 và các cơ quan, đơn vị phục vụ, bảo đảm. Lúc đầu cử anh Hoàng Cầm làm Tư lệnh kiêm Chính ủy. Sau này anh Hoàng Cầm làm Tư lệnh, anh Hoàng Thế Thiện làm Chính ủy, anh Bùi Cát Vũ làm Phó Tư lệnh, anh Hoàng Nghĩa Khánh làm Tham mưu trưởng.Lực lượng của quân khu, bộ đội địa phương tỉnh, huyện, du kích xã đều phát triển nhanh. Tháng 8-1974, Bộ Chỉ huy Miền quyết định thành lập ở mỗi quân khu (trừ Quân khu 6 và Quân khu Sài Gòn - Gia Định) một sư đoàn nhẹ, tăng cường lực lượng binh chủng và tổ chức cơ quan chỉ huy sư đoàn do một đồng chí phó tư lệnh quân khu kiêm sư đoàn trưởng. Trước mùa khô 1974, Bộ Chỉ huy Miền trực tiếp nắm ba sư đoàn chủ lực: 5, 7, 9; các trung đoàn trực thuộc: 201, 205, 271, 16 và Đoàn 27 đặc công, Đoàn 316 biệt động thành và một số binh chủng. Toàn B2 chỉ có năm tiểu đoàn pháo binh xe kéo, trong đó có hai tiểu đoàn pháo 105 ly và 155 ly thu được của địch, đạn rất thiếu; ba tiểu đoàn tăng - thiết giáp và cả xe M113 và M41 thu được của địch cũng không đủ xe; công binh và thông tin thì càng thiếu và yếu hơn nữa. Vẻn vẹn chỉ có một tiểu đoàn công binh vượt sông không đủ khí tài, một tiểu đoàn công binh công trình, hai tiểu đoàn thông tin vô tuyến điện và một tiểu đoàn hữu tuyến điện. Trung đoàn 271 và 205 được ghép lại, thành lập Sư đoàn 3 thiếu, do đồng chí Đỗ Quang Hưng (tức Sáu Hưng) làm Sư đoàn trưởng. Hai sư đoàn 5 và 3, Trung đoàn 16, 201, Đoàn đặc công 17 và Đoàn 316 biệt động thành đều trực thuộc Bộ Chỉ huy Miền để sử dụng trên các hướng cần thiết. Một số tỉnh có trung đoàn, một số huyện có tiểu đoàn và hầu hết các xã đều có du kích. Các chiến trường khác ở miền Nam cũng có binh đoàn lớn cấp sư đoàn - quân đoàn. Vũ khí của ta cũng được tăng cường thêm. Chiến trường Nam Bộ đã có xe tăng T59, pháo 130 ly và một số khí tài hiện đại khác.Việc thành lập Quân đoàn 4 ở B2 và các sư đoàn chủ lực cơ động cho các quân khu là một sự chuẩn bị lực lượng chủ lực của chiến trường để đáp ứng đòi hỏi của tình hình mới. Cuối tháng 10-1974, Trung ương Cục nhận được điện của Bộ Chính trị gọi hai anh Phạm Hùng và Trần Văn Trà ra Hà Nội họp. Trước khi đi, Trung ương Cục giao cho anh Võ Văn Kiệt thường trực bên Trung ương Cục và giao cho tôi thay vị trí chỉ huy của anh Trà. Khi bắt đầu triển khai kế hoạch tác chiến mùa khô thì Bộ Tư lệnh Miền có tôi và các anh Năm Ngà, Hai Tưởng, Hoàng Cầm.Trong Bộ Tư lệnh Miền, mỗi người được phân công phụ trách một hướng, tôi, anh Hoàng Cầm và anh Bùi Cát Vũ lo mở hướng hành lang, Tham mưu trưởng Năm Ngà lo hướng đường 20, triển khai xong việc thì chuyển sang hướng Long An. Còn một vị trí, một hướng vô cùng quan trọng là hướng núi Bà Đen. Lực lượng giải quyết ở hướng này lấy trinh sát và lực lượng của Bộ Tham mưu Miền (gồm một số đơn vị trực thuộc) cộng với lực lượng dân quân du kích địa phương do anh Trần Văn Danh (tức Ba Trần) - Tham mưu phó chỉ huy. Núi Bà Đen là điểm cao thuộc tỉnh Tây Ninh, đứng giữa một bên là Long An - Đồng Tháp Mười, bên kia là Phước Long, tầm quan sát tới tận Sài Gòn và bao quát tới sông Tiền thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Quân ta thực hiện vừa nghi binh vừa đánh. Nhưng khi nổ súng giải quyết ở đây thì vẫn không quên đô thị là trọng điểm và việc xây dựng lực lượng biệt động thành, xây dựng và phát triển Trung đoàn Gia Định. Anh Võ Văn Kiệt, sau đó anh Nguyễn Văn Linh, chủ trì lo việc này. Khoảng tháng 12 bắt đầu thực hiện kế hoạch của các hướng.Hướng Tây Ninh làm trước. Khi ta bao vây núi Bà Đen tiến đánh các đồn bốt và phá ấp chiến lược xung quanh thị xã Tây Ninh thì lập tức Sư đoàn 25 địch kéo lên. Như vậy, ta đã làm được việc nghi binh thu hút, căng kéo lực lượng chủ lực của chúng.Phía Trung đoàn Gia Định đánh mấy đồn nhỏ để mở “lõm”, rồi đưa từng tiểu đội vào.Riêng hướng mở hành lang, vì thấy rõ vị trí và tầm quan trọng của nó, nên chủ trương của Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền đã vạch ra là "chủ lực của Miền, của Quân khu 7 và Quân khu 6 phải đánh mở rộng, hoàn chỉnh các vùng căn cứ chuẩn bị cho các hướng: bắc, tây bắc, đông và tây Sài Gòn, thực hiện bao vây, cô lập và ép Sài Gòn. Ngay từ đầu mùa khô phải giải phóng đường 14 từ Đồng Xoài lên giáp Quảng Đức để mở rộng căn cứ Miền về phía sau. Muốn giải phóng đường 14, ta phải diệt cho được mục tiêu chủ chốt là Đồng Xoài. Chúng tôi cũng tiên lượng được rằng, nếu quân ta diệt được mục tiêu này thì tỉnh lỵ Phước Long sẽ lập tức rơi vào tình trạng hoàn toàn bị cô lập. Khi có thời cơ và điều kiện thì ta giải phóng luôn toàn tỉnh Phước Long.Ngành hậu cần của B2 giữ vững truyền thống làm tốt công tác chuẩn bị hậu cần, "lót ổ sẵn" hàng trăm, hàng nghìn tấn lương thực, vũ khí, đạn dược từ trước ở trong Sài Gòn và các địa bàn xung quanh Sài Gòn. Nhằm phục vụ cho chiến trường bước vào những trận đánh lớn quyết định, trong hai năm 1973, 1974, riêng ở miền Đông Nam Bộ ta mở 910km đường ôtô. Tổng khối lượng hàng hóa vận chuyển trong năm 1974 tăng 30% so với năm 1973, B2 là chiến trường xa nhất dự trữ được 45.000 tấn vũ khí, xăng dầu, lương thực, thực phẩm, đủ cung cấp cho 200.000 người hoạt động trong sáu tháng.Đến đầu năm 1974, hệ thống đường ống dẫn xăng dầu đã từ miền Bắc vào tới Lộc Ninh. Sau chiến thắng Thượng Đức (tháng 8-1974) ở Quân khu 5, Bộ Tư lệnh 559 được giao nhiệm vụ gấp rút mở tuyến đường vào chiến trường Nam Bộ, ép dần xuống phía đông Trường Sơn.Cuối năm 1974, các đơn vị thông tin của Miền cũng đã hoàn thành một số đường dây thông tin hữu tuyến điện quan trọng: một đường dây trần từ sở chỉ huy Miền ở Tà Thiết kéo đến ngã ba Lộc Tấn để nối thông với đường dây trần "Thống nhất" đang kéo từ Bộ Tổng Tham mưu vào; một đường dây trần, cột gỗ từ sở chỉ huy Miền đi Cà Tum, Đồng Pan nối với Trung ương Cục (Chàng Riệc - bắc Tây Ninh); một đường dây trần từ sở chỉ huy Miền đi Bà Chiêm - Võ Tùng, hậu cứ của Quân đoàn 4. Khả năng chỉ huy từ căn cứ Tà Thiết của Bộ Chỉ huy Miền được nâng lên một bước mới.Để chuẩn bị cho mùa khô 1974-1975, ngay từ trong mùa mưa, hậu cần của Miền đã chuyển đến các quân khu, kể cả Sài Gòn, trên 3.000 tấn vũ khí, đạn dược, đã cấp phát đủ các cơ số đạn và lương thực cần thiết cho chiến đấu và dự trữ thường xuyên cho các đơn vị. Đồng thời, tích trữ tại các khu vực sẽ diễn ra các trận chiến đấu mùa khô, chủ yếu ở miền Đông Nam Bộ, gần 3 vạn tấn vật chất, trong đó có gần 8.000 tấn đạn dược và 1.500 tấn xăng dầu. Điều đáng nói ở đây là hậu cần B2 đã cố gắng tạo ra lượng vật chất, phương tiện tại chỗ tất cả những gì có thể tạo ra được. Thực hiện đúng mệnh lệnh của Bộ Chỉ huy Miền, ngành hậu cần đã bảo đảm lượng dự trữ thường xuyên từ bốn đến sáu tháng lương thực, thuốc và dụng cụ quân y; ba đến sáu tháng xăng dầu và bắt buộc phải có một năm vũ khí, đạn dược. Làm được như vậy ở một chiến trường trọng điểm ác liệt, xa Trung ương và hậu phương miền Bắc là một chiến công lớn. Đó là công sức, trí tuệ của các anh Tư Võ, Mười Thiện, Bùi Phùng, Mười Vị, Sáu thịnh,... và biết bao cán bộ, chiến sĩ ngành hậu cần của chiến trường B2.Trong việc bảo đảm hậu cần có một trong những ngành thường xuyên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là ngành quân y. Đội ngũ nhân viên quân y Miền với trách nhiệm cao, y đức tốt, trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, đã làm cho cán bộ, chiến sĩ trên các mặt trận yên tâm chiến đấu, khi bị thương hoặc bị bệnh, được cứu chữa kịp thời, được chăm sóc tận tình, chu đáo. Có thể nói đứng đầu ngành quân y của Miền những năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ là bác sĩ Nguyễn Thiện Thành. Anh Thành vừa làm Chủ nhiệm quân y Miền, vừa kiêm Giám đốc bệnh viện của Bộ Chỉ huy Miền, đức độ và tài năng của anh được toàn ngành tín nhiệm. Trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, gian khổ, thiếu thốn, anh vừa chăm lo chỉ đạo việc cứu chữa, chăm sóc bệnh nhân, chăm lo sức khỏe cho Bộ Chỉ huy Miền, vừa chỉ đạo việc chiến đấu bảo vệ hệ thống các bệnh xá, đội điều trị, bệnh viện, lại vừa chăm lo việc bồi dưỡng và đào tạo cán bộ quân y cho toàn chiến trường.-----------------------------------------------------------------1. Các kế hoạch bình định, lấn chiếm của địch đều bị phá sản. Tổng quân số định giảm 17 vạn tên đào, rã ngũ, chủ lực từ 70 vạn giảm xuống còn 60 vạn, phòng vệ dân sự từ 1,5 triệu giảm còn 1 triệu máy bay còn hơn 80%, pháo bắn hằng ngày giảm trung bình 60%. Về phía ta, Khu 9, xóa hẳn 2.000 đồn bốt địch, giải phóng hơn 400 ấp với gần 80 vạn dân; Khu 8, xóa hẳn hơn 800 đồn bốt giải phóng 200 ấp với hơn 13 vạn dân; Khu 5, xóa hẳn gần 800 đồn bốt, giải phóng 250 ấp với 20 vạn dân; các mặt trận khác đều duy trì thế tiến công địch…

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn