Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG - CHƯƠNG 7 PHẦN 3

Đại tướng Lê Đức Anh (1920–2019), bí danh Sáu Nam, là nhà lãnh đạo quân sự và chính trị cấp cao của Việt Nam, từng giữ chức Chủ tịch nước thứ 4 (1992–1997). Ông là vị tướng dày dạn trận mạc, có vai trò quyết định trong Chiến tranh biên giới Tây Nam và là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (1987-1991), người có công lớn trong bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ và đưa Việt Nam gia nhập ASEAN. Bài viết chia sẻ nội dung cuốn sách ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG Nhà xuất bản Chính trị Quốc g

Quảng Ninh29/03/2026Bùi Thị Thùy Linh (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Tiên Yên)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Qua "sự kiện Phước Long", ta hiểu địch hơn. Quân địch không đủ khả năng đối phó cùng một lúc với nhiều hướng tiến công của ta, không đủ khả năng chiếm lại một thị xã bị đánh chiếm. Còn Mỹ không dễ can thiệp trở lại miền Nam bằng bất cứ hình thức nào để cứu quân đội Sài Gòn. Chiến thắng đường 14 - Phước Long còn là một đòn mạnh đánh vào tinh thần của quân địch.

Ở đây, tôi rút ra một điều là, cán bộ chỉ huy các cấp luôn phải phát huy được tinh thần chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm trong quá trình phát triển chiến đấu. Khi cấp trên ra lệnh, dù chưa hiểu rõ tình hình ở cấp dưới, thì cấp dưới vẫn phải nghiêm chỉnh chấp hành, nhưng tùy từng tình hình mà có những quyết định cho đúng, quyết định kịp thời, quyết định tại chỗ đúng nguyên tắc. Mạnh dạn quyết định dùng chủ lực và hỏa lực tăng cường để tiến công quyết liệt khi biết rõ quân địch đã dao động, hoang mang, quân ta đang ở thế thượng phong thì phải dấn tới giành chiến thắng cao nhất.Từ trước đến nay, diệt địch hành quân dã ngoại, địch đi cứu viện..., nghĩa là diệt địch ở bên ngoài cứ điểm là sở trường của ta. Khi ta đưa được pháo lớn vào đánh thì bộ đội rất phấn khởi; khi ta đánh được quân địch trong căn cứ có công sự, lô cốt vững chắc thì quân địch lập tức hoang mang, dao động. Kế hoạch lúc đầu xác định Đồng Xoài là trận then chốt, nhưng trên không cho đánh. Ta chuyển sang đánh Bù Đăng rồi phát triển tiến công vào Bù Đốp và đánh luôn Bù Na, thu được hai khẩu pháo và nhiều đạn pháo, sau đó phát triển đánh sang Đồng Xoài, anh em rất phấn khởi, hăng hái, còn quân địch thì hoang mang, dao động. Có thể nói, đây là thời cơ phát sinh tại chỗ cả về chiến dịch và chiến thuật. Đến lúc ta đưa tăng, đưa pháo vào, quân địch hoảng hốt, không chống cự mà bỏ chạy. Trung đoàn 16 và đơn vị tăng, pháo còn đứng nguyên chưa phải đánh. Như vậy là, khi ta đánh đòn phủ đầu mà trúng huyệt hiểm thì địch rã. Nếu ta lừng chừng không chớp thời cơ xốc tới mà để chậm, địch đưa lên một liên đoàn biệt động tăng cường cho núi Bà Rá và thị xã Phước Long thì ta sẽ gặp khó khăn hơn rất nhiều. Đây không phải là chủ trương có trước của Bộ Tư lệnh Miền, mà tình hình cụ thể đòi hỏi phải xử lý như vậy.Có thể nói, chiến thắng đường 14 - Phước Long và núi Bà Đen đối với mặt trận B2 đã tạo ra cho chúng ta thế làm chủ một địa bàn chiến lược quan trọng, uy hiếp trực tiếp phía đông quốc lộ 13 và hệ thống phòng thủ của địch trên hướng bắc Sài Gòn, làm thay đổi đáng kể tương quan và thế trận trên chiến trường Đông Nam Bộ có lợi cho ta. Đối với Bộ Chính trị, Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu thì chiến thắng Đồng Xoài - đường 14 - Phước Long có ý nghĩa là "trận trinh sát chiến lược" thăm dò khả năng quân đội Sài Gòn và sự can thiệp của Mỹ, làm sáng tỏ hơn những cơ sở để Bộ Chính trị hạ quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam. Lịch sử có nhiều việc tưởng như ngẫu nhiên nhưng lại mang tính quy luật. Chiến thắng Đồng Xoài - đường 14 - Phước Long, lần đầu tiên ta giải phóng hoàn toàn một tỉnh, lại diễn ra đúng lúc Hội nghị Bộ Chính trị đang họp và tập trung bàn về quyết tâm chiến lược, thực hiện nốt nửa sau tư tưởng chỉ đạo của Bác Hồ: "Đánh cho ngụy nhào", giải phóng hoàn toàn miền Nam.Khái quát lại hai năm 1973-1974 thì thấy rất rõ là, sau Hiệp định Paris, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đánh khá ác liệt vào các vùng giải phóng, nhiều nơi ta mất đất, mất dân. Điều đó chứng tỏ quân đội và chính quyền địch đã tương đối vững. Mỹ cho rằng chính quyền Sài Gòn đủ sức đương đầu với ta, Mỹ có thể yên tâm mà rút. Để mất đất, mất dân đã khiến cho ta gặp nhiều khó khăn, nhưng cũng làm cho địch chủ quan, kết hợp với sự kiện ở Rạch Bắp, huyện Bến Cát - Thủ Dầu Một (ta dùng một trung đoàn bộ binh chủ lực được tăng cường xe tăng và pháo đánh một đại đội nhưng không thành công, bị thương vong, nên phải lui quân), càng làm cho chúng thêm tự mãn.Khi ta huấn luyện cách đánh mới, đánh nhanh, mở cửa mở bằng sự kết hợp đồng thời cách truyền thống với cách dùng đặc công bí mật gỡ vật cản mở trước một hướng, rồi tấn công bằng bộ binh cộng thêm pháo bắn thẳng để đánh chi khu quân sự của địch, thì địch hoàn toàn bị bất ngờ. Khi đánh Chi khu Bù Đăng và đột kích vào trận địa pháo của địch, ta đã thu rất nhiều đạn pháo. Trận này không được báo cáo lên trên là đã "đánh chi khu". Thực ra Bù Đăng là một chi khu quân sự mà địch bố trí còn hiểm hơn Đồng Xoài. Ngoài Bắc cũng không được thông tin trong này đã chuẩn bị trước, tức là tổ chức tập huấn ba tháng liền cho cán bộ ở khu vực Đồng Pan trong vùng chiến khu Dương Minh Châu. Khi Sư đoàn 3 của anh Sáu Hưng đánh Bù Đăng thắng lợi thì lực lượng Sư đoàn 7 của anh Lê Nam Phong lót sẵn đã đánh thẳng vào Chi khu Đồng Xoài. Thực chất cả hai nơi này, ở mỗi nơi ta chỉ dùng lực lượng là một trung đoàn bộ binh cộng với pháo có mức độ. Lực lượng còn lại của Sư đoàn 7 chủ yếu bố trí đón lõng để đánh viện binh. Còn Sư đoàn 9 bố trí ở khu vực Dầu Tiếng - Bến Củi thì kiềm chế, thu hút Sư đoàn 25 và lực lượng địch ở khu vực núi Bà Đen và sẵn sàng đón đánh Sư đoàn 7 địch từ Thủ Dầu Một lên chi viện cho quân địch ở Phước Long. Sư đoàn 9 do đồng chí Ba Hồng chỉ huy có nhiệm vụ kiềm chế hai sư đoàn địch. Đánh xong chi khu ta mới đột phá vào thị xã và đã gây bất ngờ lớn cho địch. Sau khi đánh và giải phóng thị xã Phước Long ta mới có thêm cơ sở khẳng định rằng tại các thành phố, thị xã - cơ quan đầu não của địch - lại chính là nơi chúng yếu nhất; bởi vậy ta có thể dùng biệt động, đặc công kết hợp với bộ binh, có pháo bắn chế áp để đột phá vào, kết hợp với lực lượng quần chúng tại chỗ nổi dậy thì sẽ thành công.Ta đánh thắng trận này trong một tư thế mới - tư thế quân đội Sài Gòn thua đau mà quân Mỹ không dám trở lại. Ta cũng đã chuẩn bị phương án đối phó với địch phản công quyết liệt bằng bộ binh và phi pháo, nhưng địch đã không dám làm, mà chỉ cho khoảng một tiểu đoàn nhảy dù xuống. Do đó, có thể nói cái dở ở đây đã chuyển thành cái hay. Trận thắng Đồng Xoài - Phước Long đã thực sự trở thành cơ sở đáng tin cậy để Trung ương hạ quyết tâm giải phóng miền Nam.Trước đó, tháng 11-1974, Bộ Chính trị họp đánh giá tình hình và sơ bộ quyết định kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam tương đối sát. Tiếp đó, tháng 1-1975, Bộ Chính trị cùng Quân ủy Trung ương và các đồng chí chủ trì chỉ huy chiến trường một lần nữa soát xét lại tình hình, chính thức thông qua quyết tâm và kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam.Chiến thắng Phước Long đến giữa lúc Bộ Chính trị họp, là nhân tố mới đến từ thực tiễn sinh động, kịp thời để Bộ Chính trị hạ quyết tâm thông qua kế hoạch chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam trong hai năm 1975-1976.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG - CHƯƠNG 7 PHẦN 3 | Câu chuyện thời hoa lửa