Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG - CHƯƠNG 9 PHẦN 4

Đại tướng Lê Đức Anh (1920–2019), bí danh Sáu Nam, là nhà lãnh đạo quân sự và chính trị cấp cao của Việt Nam, từng giữ chức Chủ tịch nước thứ 4 (1992–1997). Ông là vị tướng dày dạn trận mạc, có vai trò quyết định trong Chiến tranh biên giới Tây Nam và là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (1987-1991), người có công lớn trong bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ và đưa Việt Nam gia nhập ASEAN. Bài viết chia sẻ nội dung cuốn sách ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG Nhà xuất bản Chính trị Quốc g

Quảng Ninh29/03/2026Bùi Thị Thùy Linh (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Tiên Yên)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Như chúng ta đã biết, sau chiến dịch Mậu Thân 1968, lực lượng chủ lực của ta rút sang Campuchia củng cố lực lượng, đồng thời giúp lực lượng cách mạng Campuchia giải phóng đất nước ngày 17-4-1975, sau đó ta giao cho bạn (mà lúc đó bạn là Đảng Cộng sản Campuchia). Sau chiến thắng vĩ đại này, đáng lẽ nhân dân Campuchia phải được sống trong hòa bình, độc lập, tự do và hạnh phúc, nhưng ngày 17-4-1975 đã trở thành mốc mở đầu một giai đoạn đen tối nhất của lịch sử Campuchia. Đây là thời kỳ tồn tại của "Campuchia dân chủ” do nhóm độc tài cực đoan Pol Pot - Ieng Sary - Khieu Samphan (Khiêu Xămphon) đứng đầu. Một mặt, chúng tiến hành quyết liệt và tàn bạo cuộc diệt chủng đối với những người Campuchia yêu nước, mặt khác, chúng ráo riết xây dựng quân đội và tiến công xâm lược trên toàn tuyến biên giới Tây Nam của Việt Nam.

Trên hướng Quân khu 9, sau nhiều tháng chiến đấu liên tục, lực lượng chủ lực cơ động chiến đấu trên nhiều hướng, chốt giữ trên các hướng quan trọng, quân số bị tiêu hao, lực lượng địa phương chưa đủ mạnh, vì vậy Quân khu chủ trương vừa chiến đấu đánh địch, vừa xây dựng huấn luyện, bổ sung quân số tại chỗ, đồng thời rút thêm các tiểu đoàn địa phương của các tỉnh phía sau lên tăng cường cho từng khu vực phòng thủ. Theo chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu, lực lượng vũ trang Quân khu chỉnh huấn theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 (khóa IV), các tỉnh biên giới tiếp tục xây dựng thêm các tiểu đoàn, trung đoàn để đáp ứng yêu cầu chiến đấu.Ngày 18-2-1978, Đảng ủy Quân khu ra nghị quyết lãnh đạo nhiệm vụ năm 1978, trong đó xác định: Đảng ủy các cấp, toàn thể cán bộ, đảng viên, đoàn viên, toàn thể cán bộ, chiến sĩ công nhân viên quốc phòng hãy nhận rõ tình hình nhiệm vụ, vai trò trách nhiệm của mình, bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, bảo vệ vững chắc biên giới, bảo vệ tốt trật tự trị an nội địa...".Trước tình hình địch tăng cường đánh phá, sử dụng lực lượng tiến công quy mô ngày càng lớn và đánh sâu vào nội địa ta, ngày 2-3-1978, Bộ Tư lệnh Quân khu ra chỉ thị về việc “tăng cường công tác tư tưởng, nâng cao sức mạnh chiến đấu cho các đơn vị làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới". Từ ngày 5 đến 25-4-1978, Quân khu chủ trương mở đợt phản công toàn diện trên tuyến biên giới nhằm giành lại thế chủ động, khôi phục các khu vực bị địch chiếm giữ, đẩy địch về bên kia biên giới. Đồng thời, huy động lực lượng phía sau lên xây dựng tuyến phòng thủ. Quân khu giao nhiệm vụ cho Sư đoàn bộ binh 330 cơ động diệt địch tại khu Tràm Hà Tiên, đoạn Phú Mỹ, sau đó đánh sâu qua đất Campuchia 6-7km, dừng lại đánh địch phản kích từ 10 đến 15 ngày, nhằm hỗ trợ cho lực lượng phía sau lên xây dựng tuyến phòng thủ, bảo vệ biên giới.Cùng với nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ biên giới, các đơn vị ở tiểu đội 2 đẩy mạnh lao động sản xuất, cày ải được 3.000ha; gieo sạ được 2.000ha, vượt chỉ tiêu so với kế hoạch, đào đắp được 15.000m3 đất kênh cấp I, II, xây dựng được nhiều nhà ở, củng cố doanh trại khang trang hơn.Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, ngày 5-5-1978, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra quyết định tổ chức rút gọn Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh thành Bộ Chỉ huy quân sự Thành phố Hồ Chí Minh trực thuộc Bộ Tư lệnh Quân khu 7. Anh Trần Văn Trà được Trung ương điều động ra Bắc làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và tôi được điều từ Quân khu 9 về làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu. Thiếu tướng Dương Cự Tẩm - Phó Chính ủy, Thiếu tướng Đồng Văn Cống, Thiếu tướng Nguyễn Hồng Lâm, Đại tá Lương Văn Nho, Đại tá Nguyễn Thời Bưng - Phó Tư lệnh.Bộ Tư lệnh Quân khu thống nhất đề nghị với Bộ Tổng Tham mưu khôi phục lại quân số và một số đơn vị thuộc Quân đoàn 4 (mà Quân khu 7 đã giải thể), đồng thời xin và đưa Quân đoàn 3 vào. Sau đó, Bộ Tổng Tham mưu quyết định điều động toàn bộ lực lượng còn lại của Quân đoàn 3 ở địa bàn Quân khu 5 lên bắc Tây Ninh.Sau khi kiện toàn, tổ chức tại lực lượng và thế phòng thủ, các lực lượng vũ trang Quân khu phát triển thế tiến công tiêu diệt địch, vừa mở rộng đánh chiếm địa hình có lợi, vừa tiến hành tổng kết rút kinh nghiệm huấn luyện tại chỗ. Để chuẩn bị hoạt động trong mùa khô 1978-1979, Bộ Tư lệnh Quân khu điều chỉnh đội hình, tổ chức lực lượng trực thuộc ba sư đoàn (5, 302, 303) cùng một trung đoàn bộ binh, bốn trung đoàn binh chủng (đặc công, pháo binh, phòng không, thiết giáp), hai đại đội và hai tiểu đoàn bộ binh mới xây dựng cùng các đơn vị bảo đảm (thông tin, công binh, vận tải trinh sát).

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn