ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MMẠNG- CHƯƠNG 5
Đại tướng Lê Đức Anh (1920–2019), bí danh Sáu Nam, là nhà lãnh đạo quân sự và chính trị cấp cao của Việt Nam, từng giữ chức Chủ tịch nước thứ 4 (1992–1997). Ông là vị tướng dày dạn trận mạc, có vai trò quyết định trong Chiến tranh biên giới Tây Nam và là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (1987-1991), người có công lớn trong bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ và đưa Việt Nam gia nhập ASEAN. Bài viết chia sẻ nội dung cuốn sách ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG Nhà xuất bản Chính trị Quốc g
Chương 5
VỀ BỘ CHỈ HUY MIỀN TRỰC TIẾP ĐÁNH MỸ TRÊN CHIẾN TRƯỜNG B2
Ngày 13-8-1963, tôi được bổ nhiệm làm Phó Tổng Tham mưu trưởng. Những ngày này tôi cùng cơ quan Bộ Tổng Tham mưu tổ chức cho anh em cán bộ miền Nam tập kết tiếp tục huấn luyện và rèn luyện hành quân đường dài, mang vác nặng để chuẩn bị vào Nam chiến đấu, mà lúc đó thường gọi là "đi B". Vào một ngày trung tuần tháng 11-1963, Tổng Tham mưu trưởng nói tôi chuẩn bị đi B và căn dặn:- Vào tới nơi, anh báo cáo với anh Linh và anh Trà, xúc tiến ba việc lớn: Thứ nhất, xây dựng lực lượng tại chỗ. Thứ hai, mở vùng giải phóng miền Đông Nam Bộ xuống tận biển Đông. Thứ ba, cố giành và khai thác nhân tài, vật lực để phát triển cách mạng.Tiếp đó, tôi sang gặp anh Lê Duẩn tại nhà số 6, phố Hoàng Diệu. Anh Duẩn bảo:- Ba ý kiến anh Dũng nói, đúng. Nhưng thêm một việc nữa là chú trọng xây dựng lực lượng và hoạt động vũ trang ở trong đô thị và vùng ven đô...Trước khi đi, anh Song Hào - Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị - mời tôi đến ăn cơm.Một ngày cuối tháng 12-1963, tôi lặng lẽ ra đi. Gia đình tôi ở nhà số 91, phố Lý Nam Đế, gần cơ quan Bộ Quốc phòng nhưng không biết. Anh em đồng đội trong cơ quan Bộ Tổng Tham mưu cũng không biết. Cùng đi với tôi có anh Trần Minh Tâm quê ở xã Vĩnh Viễn, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Anh cũng để vợ và một con nhỏ ở miền Bắc. Sau này, anh làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 5, là một trong ba sư đoàn chủ lực đầu tiên của Nam Bộ trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Tối hôm đó, hai chúng tôi xuống con tàu "Không số”, lặng lẽ rời bến Đồ Sơn, Hải Phòng, ra hải phận quốc tế, rồi hướng thẳng về phương Nam. Trên tàu, ngoài hai cán bộ miền Nam chúng tôi và đội thủy thủ của Đoàn 125 Hải quân Việt Nam còn có những hòm súng, đạn chở vào miền Nam và khối thuốc nổ TNT, phòng khi gặp tình huống tàu địch phát hiện và vây bắt thì sẽ cho nổ tàu, kiên quyết không để người và vũ khí rơi vào tay giặc.Đêm cuối năm, gió bấc thổi lạnh buốt. Trong khoang tàu, hai chúng tôi khi ngồi, khi nằm, tâm sự và chuyện tào lao trên trời dưới bể. Những kỷ niệm về Nam Bộ - Thành đồng Tổ quốc với những vùng đất, những con người gian lao mà anh dũng lại hiện về... Tôi bỗng nhớ gia đình, quê hương da diết, nhớ xứ Huế mộng mơ với "giọng hò xa vọng, nhắn tình nước non!".Khi tàu cập Cà Mau thì rừng đước, rừng tràm đã che chở cho con tàu nên chuyến đi của chúng tôi suôn sẻ và giữ được bí mật đến phút chót. Ông Thãng, Phó Bí thư Khu ủy Khu 9 ra đón hai chúng tôi về Khu bộ. Từ căn cứ của Bộ Tư lệnh Khu 9, các đồng chí giao liên dẫn chúng tôi đi theo đường bộ sang biên giới Việt Nam - Campuchia. Từ đây, chúng tôi đi giữa ban ngày trên ôtô với giấy tờ "hợp pháp" do tổ chức Việt kiều ở Campuchia bố trí. Cuộc hành trình của chúng tôi kết thúc thắng lợi tại Bộ Chỉ huy Miền, đứng chân ở huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, ở chiến khu Dương Minh Châu, thuộc miền Đông Nam Bộ.Bộ Chỉ huy giao cho tôi việc làm kế hoạch xây dựng lực lượng tại chỗ. Lúc đó, anh Nguyễn Văn Linh là Bí thư Trung ương Cục, anh Trần Văn Trà là Tư lệnh B2, tôi làm Tham mưu trưởng.Khi làm kế hoạch quân sự, tôi đề nghị trong kế hoạch, phần xây dựng lực lượng ở vùng đô thị thì mời anh Võ Văn Kiệt (trước đó làm Bí thư Sài Gòn - Chợ Lớn) lên ít ngày để cùng bàn bạc và làm kế hoạch. Bộ Chỉ huy bàn về tổ chức xây dựng lực lượng trước, sau đó mới bàn kế hoạch mở địa bàn ra hướng đông. Không khí làm việc thật hào hứng, sôi nổi. Anh Trà nêu ý kiến: "Cả một vệt phía bờ biển Bà Rịa - Vũng Tàu, ta chưa có gì, phải xây dựng lực lượng ở đó. Hiện ta có hai trung đoàn chủ lực nên đưa cả xuống đó. Cả vùng Long Điền - Đất Đỏ ra tới Hàm Tân dân cư đông đúc và giàu có nữa. Ta mở vùng hoạt động ra rừng Sác - sông Lòng Tàu thành một vệt, gắn với nó là việc xây dựng lực lượng tại chỗ để khi hai trung đoàn chủ lực hút đi thì bàn giao địa bàn và phong trào cho lực lượng tại chỗ".Họp bàn về kế hoạch xong, anh Trà cử tôi sang báo cáo với Trung ương Cục. Nghe tôi báo cáo toàn bộ bản kế hoạch, hầu hết mọi người đều nhất trí, chỉ có đồng chí Phạm Văn Xô (tức Hai Xô) băn khoăn hỏi lại:- Gạo ở đâu? Có chạy được gạo không? Đưa hai trung đoàn chủ lực xuống, ngần ấy con người, lấy gạo đâu mà ăn?Trước câu hỏi bức xúc về gạo, anh Trà và tôi đều im lặng vì chưa biết trả lời cách nào. Đến khi xuống họp bàn với ngành hậu cần, anh Lê Thành Công (tức Lê Minh Thịnh, Sáu Thịnh) nói:- Nếu cứ ngồi đây mà bàn thì không ra gạo. Để tôi xuống gặp anh Phạm Văn Lạc, Tỉnh đội trưởng Long Khánh.Anh Lạc vốn là dân Công giáo miền Bắc di cư vào, người của công nhân cao su Long Khánh. Anh có cơ sở trong đoàn ôtô vận tải chuyên chở thuê từ Sài Gòn đi Phan Thiết.
Khi anh Công xuống trao đổi, anh Lạc nói:- Được!- Gạo cho hàng nghìn người ăn trong ba tháng ròng, vậy mà anh nói “Được", liệu có chủ quan không?
- Anh Công ngạc nhiên hỏi lại.- Một tháng thì chắc rồi, còn hai tháng nữa sẽ tính - Anh Lạc trả lời.- Cứ mượn tiền để mua gạo, ít bữa cấp trên sẽ trả đầy đủ - Anh Công nói với anh Lạc.Sau một thời gian chuẩn bị, khi đoàn xe cam nhông chạy tới, anh Lạc mặc bộ đồ của cai kiểm lâm, đội mũ phớt, cầm cây ba toong ngoắc một cái ra hiệu cho xe tới chở gạo. Đoàn xe trước đó vẫn chuyên chở thuê từ Sài Gòn ra Phan Thiết trên quốc lộ 1, đến địa phận Long Khánh thì đi theo đường kiểm lâm như là đoàn xe chở gỗ, rồi cho gạo vào các kho trong rừng của chiến khu. Phần lớn là gạo thơm mua từ Thái Lan về, cùng với số gạo do anh em ta vào mua trong các ấp chiến lược và số gạo do dân tự nguyện đóng góp…Các đơn vị bộ binh lúc đó hầu hết là xây dựng ở quy mô cấp tiểu đoàn. Ở cấp trung đoàn chủ lực của Miền có hai trung đoàn Q761 và Q762. Về bộ đội đặc công, ta đã xây dựng được một số đơn vị, anh em huấn luyện khá tốt. Chỉ còn lực lượng "biệt động thành" thì Bộ Chỉ huy thấy khó vì nhất thiết phải lấy người tại chỗ, tức là người ngay trong lòng đô thị và vùng ven đô. Vậy mà anh Võ Văn Kiệt khẳng định là "Được" và rồi được thật, tuy lúc đầu mới chỉ là những đội, tổ hoạt động tình báo, quân báo.Về pháo binh, có Đoàn 80 gồm năm tiểu đoàn, đứng chân ở vùng căn cứ miền Đông Nam Bộ, được bổ sung quân số và trang bị tương đối khá. Bộ Chỉ huy điều Trung đoàn 3 thuộc Khu 9 ở Tây Nam Bộ lên đứng chân ở khu Lò Gò - căn cứ Trung ương Cục. Các căn cứ hậu cần A, B, C, D đổi tên thành các đoàn hậu cần 81, 82, 83 và 84. Mỗi đoàn đều xây dựng kho dự trữ hàng, xưởng quân giới, bệnh xá, đội vận tải, các đội sản xuất, thu mua, tiếp nhận, phấn đấu theo hướng bảo đảm cho bộ đội hoạt động trên một hướng của chiến dịch. Đầu mùa mưa năm 1964, để gấp rút chuẩn bị hậu cần, nhất là về vũ khí, đạn dược, Bộ Chỉ huy Miền đã tăng cường cán bộ, bổ sung quân số cho các đoàn 340B và 445B, thành lập trung đoàn tiếp vận mang phiên hiệu Đoàn K101 đặt căn cứ ở Hắc Dịch (thuộc Bà Rịa), đã tiếp nhận (từ các đoàn tàu “Không số” ngoài Bắc đưa vào) và vận chuyển hàng tấn vũ khí để cung cấp cho các hoạt động quân sự trên toàn miền.Nhân đây, tôi xin đề cập một số tình hình trong bối cảnh triển khai chiến lược chung giữa ta và đế quốc Mỹ. Đến năm 1963, tình hình quân sự và chính trị của Mỹ - Diệm càng xấu đi, đến nỗi Tổng thống Kennedy (Kennơđi) phải thốt lên: "Chúng ta hiện đang ở trong đường hầm không lối thoát!". Cuối năm 1963, "quốc sách ấp chiến lược" của Mỹ và tay sai cơ bản bị phá sản, kéo theo sự thất bại hoàn toàn của kế hoạch chiến lược Staley-Taylor, qua đó, báo hiệu sự thất bại không sao tránh khỏi của chiến lược "Chiến tranh đặc biệt". Tập đoàn cầm quyền ở Mỹ đứng đầu là Johnson (Giônxơn) (lên thay Tổng thống Kennedy bị ám sát ngày 22-11-1963) lại ráo riết chuẩn bị một kế hoạch chiến tranh mới theo hướng tăng cường và mở rộng chiến tranh xâm lược nước ta.Tháng 12-1963, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) ra nghị quyết khẳng định phương châm chiến lược của cách mạng miền Nam là chiến đấu lâu dài, dựa vào sức mình là chính, phương châm đấu tranh là kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang một cách linh hoạt. Hai hình thức đấu tranh đều là cơ bản và có vai trò quyết định, trong đó đấu tranh vũ trang có vai trò quyết định trực tiếp đối với việc tiêu diệt lực lượng quân sự địch. Về mặt chỉ đạo, cần hết sức tranh thủ khả năng thắng địch trong "Chiến tranh đặc biệt", đồng thời tích cực chuẩn bị sẵn sàng đối phó với "Chiến tranh cục bộ".Thực hiện Nghị quyết 9 của Trung ương Đảng, Hội nghị Quân ủy Trung ương đầu năm 1964, xuất phát từ hai chiến lược cách mạng ở hai miền, đã xác định hai nhiệm vụ chiến lược quân sự của Đảng là bảo vệ miền Bắc và đẩy mạnh chiến tranh giải phóng miền Nam; và nhiệm vụ giúp đỡ về quân sự cho cách mạng hai nước bạn, đặc biệt là cách mạng Lào.Quân ủy Trung ương nêu rõ phương hướng chỉ đạo trước mắt là đẩy mạnh tác chiến thường xuyên đi đôi với tổ chức từng đợt hoạt động quy mô lớn hay tương đối lớn, tiêu diệt và làm tan rã từng đại đội, tiểu đoàn địch, chuẩn bị tốt để tiêu diệt trung đoàn địch; xây dựng lực lượng vũ trang cả ba thứ quân, đặc biệt coi trọng tăng cường lực lượng cơ động, tổ chức bộ chỉ huy dã chiến ở Miền để chỉ huy phối hợp tác chiến mấy trung đoàn, khi có điều kiện thì tổ chức sư đoàn; tập trung giải quyết công tác vận chuyển chiến lược từ hướng Campuchia sang, nhất là từ đường Trường Sơn vào.Nghị quyết 9 của Trung ương cuối năm 1963 và Nghị quyết Quân ủy Trung ương đầu năm 1964 đã thúc đẩy đòn tiến công quân sự và tạo mọi điều kiện để các chiến trường ở miền Nam đẩy mạnh hoạt động tác chiến, đánh bại các cố gắng chiến tranh của địch, chủ động đối phó với bước leo thang chiến tranh của chúng. Để gỡ thế thất bại ở miền Nam và tăng cường các hoạt động biệt kích, gián điệp ra miền Bắc, lúc này, Mỹ ráo riết xúc tiến mưu đồ leo thang đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân.
1. Ban Chỉ huy Đoàn K10 do các anh: Lâm Quốc Đăng, tức Nguyễn Thược, làm Chỉ huy trưởng; Nguyễn Huỳnh Ngân, tức Ba Vinh, làm Chính ủy; Lê Thành Công, tức Lê Minh Thịnh, Phạm Văn Bính và Trương Văn Ngọc làm Chỉ huy phó. Anh Phạm Văn Bính phụ trách khu Rừng Sác và vận tải thủy, anh Trương Văn Ngọc phụ trách đường dây vận tải bộ từ Hắc Dịch về chiến khu Đ. Mỗi trạm chỉ huy đều trang bị một đài vô tuyến điện và một máy dự phòng để bảo đảm thông tin liên lạc. Đoàn Pháo binh U80 do các anh Lương Văn Nho, tức Hai Nhã và Nguyễn Văn Bứa, tức Hai Hồng Lâm chỉ huy.2. Ngày 17-4-1964, Bộ Tư lệnh Mỹ ở Thái Bình Dương thông qua kế hoạch "OPLAN 37” gồm ba giai đoạn, dùng không quân đánh phá đường Trường Sơn và miền Bắc Việt Nam. Cùng ngày, Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ quyết định 54 mục tiêu oanh tạc ở miền Bắc nước ta.Thấy rõ âm mưu của đế quốc Mỹ và dự đoán đúng ý đồ của chúng đối với miền Bắc, Đảng đã chủ động chuẩn bị sẵn sàng về mọi mặt. Do đó, ở miền Bắc, cùng với những thành tựu lớn về xây dựng chủ nghĩa xã hội trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965), ta đã chủ động chuẩn bị tốt và đánh thắng địch ngay trận đầu (ngày 5-8-1964), đợt đầu chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ (ngày 7-2-1965), đồng thời không ngừng tăng cường lực lượng vào chiến trường miền Nam3 góp phần tạo thế vững chắc cho cuộc chiến đấu ở miền Nam.Trên cơ sở phát triển dân quân du kích ở cơ sở, Bộ Chỉ huy Miền từng bước xây dựng lực lượng bộ đội địa phương và chủ lực. Miền Đông Nam Bộ từng bước được xây dựng thành một chiến trường tiến công tiêu diệt địch. Đến cuối năm 1964, việc xây dựng lực lượng đã hình thành. Nhiều vùng trắng trước đây quân địch thả sức tung hoành hành quân càn quét, bắn giết đồng bào ta, nay cơ sở và lực lượng vũ trang cách mạng đã được xây dựng và bắt đầu hoạt động có hiệu quả.Trong tháng 9-1964, Bộ Chính trị cử Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, ủy viên Bộ Chính trị vào miền Nam để cùng Trung ương Cục chỉ đạo phong trào. Cùng đi vào miền Nam đợt này có một số cán bộ cao cấp như các anh Lê Trọng Tấn, Trần Độ, Hoàng Cầm, Nguyễn Hòa. Khi các anh vào tới Bộ Chỉ huy Miền thì trong này chúng tôi đã chuẩn bị xong về cơ bản cho chiến dịch tiến công Bình Giã. Cần nói rõ thêm là lúc tôi vào B2 thì anh Trần Đình Xu trong thời gian làm Tham mưu trưởng B2 đã chuẩn bị xong kế hoạch đánh trận Bình Giã. Ngoài Khu 5, anh Nguyễn Đôn cũng chuẩn bị mở chiến dịch An Lão.Sau khi cơ quan tham mưu nghiên cứu chiến trường và báo cáo đề đạt, Bộ Chỉ huy Miền trình lên Trung ương Cục quyết tâm mở chiến dịch Bình Giã. Phạm vi chiến dịch nằm trên địa bàn ba tỉnh Bà Rịa, Bình Thuận và Biên Hòa, khu vực tác chiến chỉ cách thành phố Sài Gòn (về phía đông) chừng 60km, có các trục lộ lớn 1 và 15, tỉnh lộ 2 chạy qua. Lực lượng tham gia chiến dịch trên hướng tiến công chủ yếu có hai trung đoàn bộ binh chủ lực của Miền (Q761 và Q762), bốn tiểu đoàn trợ chiến (gồm cối 81 ly, ĐKZ75 và súng máy cao xạ 12,7 ly) và bộ đội địa phương tỉnh Bà Rịa; trên hướng tiến công thứ yếu do lực lượng Quân khu 6 đảm trách; hướng phối hợp do lực lượng Quân khu 7 và bộ đội địa phương tỉnh Biên Hòa đảm nhiệm.Bộ Chỉ huy Miền chỉ định anh Trần Đình Xu làm Chỉ huy trưởng chiến dịch. Anh Lê Văn Tưởng (tức Hai Chân), Chủ nhiệm Chính trị Miền làm Chính ủy chiến dịch.Tỉnh ủy Bà Rịa đã thành lập Hội đồng cung cấp để giải quyết hậu cần tại chỗ cho chiến dịch và vận động nhân dân ủng hộ lương thực, thực phẩm. Trong vòng hai tháng, ta đã vận động thu mua được 50 vạn lít gạo và một khối lượng lớn thực phẩm, thuốc men đủ sử dụng trong suốt thời gian diễn ra chiến dịch. Các xã đã huy động hàng trăm dân công đi phục vụ chiến dịch.Riêng khu vực các đồn điền cao su dọc theo hai bên liên tỉnh lộ 2 và vùng Long Tân, Hòa Long, Phước Long tổ chức được hai đại đội dân công hỏa tuyến theo suốt chiến dịch. Đặc biệt, đêm 22-12-1964, chuyến tàu "Không số" chở 44 tấn vũ khí đã cập bến Lộc An an toàn, kịp thời bổ sung trang bị cho các đơn vị trước khi bước vào đợt 2 của chiến dịch.Trong hơn một tháng chiến đấu tiến công (từ đêm 2-12-1964 đến ngày 3-1-1965), chiến dịch Bình Giã đã giành thắng lợi to lớn. Mục tiêu cơ bản của chiến dịch đặt ra đều thực hiện được: giải phóng gần 2 vạn dân huyện Hoài Đức, vùng căn cứ được củng cố và mở rộng bảo đảm cho việc tiếp nhận trang bị vũ khí của Trung ương từ miền Bắc chi viện bằng đường biển vào chiến trường Nam Bộ và Nam Trung Bộ.Trên hướng phối hợp, Quân khu 7 tổ chức các trận đánh phục kích giao thông ở Long Thành - Nhơn Trạch, Tỉnh ủy Biên Hòa và Bà Rịa tổ chức ba mũi giáp công vây đồn, lùng diệt ác ôn, làm chủ xã, ấp cũng giành nhiều thắng lợi.Trận Bình Giã đã đánh dấu sự thất bại cơ bản của chiến lược "Chiến tranh đặc biệt"4 của Mỹ và tay sai. Chiến thắng này chứng tỏ rằng ta có khả năng xây dựng những đơn vị chủ lực lớn tại chỗ, phát triển lên xây dựng Sư đoàn 5 để có thể đánh lớn, thắng lớn, và chủ lực ta hoàn toàn có khả năng tiêu diệt được chủ lực địch.Một tháng trước khi nổ súng mở màn chiến dịch Bình Giã đêm 31 tháng 10, đoàn pháo binh của Miền (U80) đã bí mật hành quân vượt sông Đồng Nai, bất ngờ nổ súng cấp tập vào sân bay Biên Hòa, phá hủy 59 máy bay các loại, phá hủy các kho đạn, kho xăng, đài quan sát, diệt và làm bị thương nhiều tên địch.Phối hợp với Bình Giã, bộ đội Quân khu 6, Quân khu 8, Quân khu 9 và Quân khu 5 đánh địch, giành thắng lợi. Các trận đánh đã hỗ trợ tích cực cho đồng bào ta nổi dậy phá ấp chiến lược, giành quyền làm chủ. Trong chiến dịch này, ta đã xây dựng được 2 trung đoàn và 3 tiểu đoàn chủ lực tại chỗ. Sau chiến dịch Bình Giã, ta mở thêm chiến dịch Đồng Xoài và Phước Bình - Phước Long



