Cựu chiến binh

Đại tướng Lê Đức Anh – Người chỉ huy trải qua bốn chiến trường

Huế12/08/2026Xã Quan Thành (Đoàn xã Quan Thành)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Lê Đức Anh (1920–2019), tên khai sinh Lê Văn Giác, bí danh Nguyễn Phú Hòa, Sáu Nam, là Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòngChủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cuộc đời ông gắn liền với nhiều giai đoạn quan trọng của lịch sử cách mạng Việt Nam, từ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đến chiến tranh biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc và công cuộc xây dựng đất nước thời kỳ Đổi mới.

Từ người thanh niên xứ Huế đến con đường cách mạng

Lê Đức Anh sinh ngày 1/12/1920 tại huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Thuở nhỏ, ông từng học chữ Nho, chữ Quốc ngữ và sau đó học tiểu học tại Vinh. Năm 1937, khi mới 17 tuổi, ông bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng chống thực dân Pháp. Tháng 5/1938, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương.

Năm 1944, Lê Đức Anh tổ chức và phụ trách các nghiệp đoàn cao su ở Lộc Ninh. Khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 diễn ra, ông tổ chức một lực lượng khoảng 300 người, trang bị vũ khí và tham gia Tổng khởi nghĩa tại Thủ Dầu Một. Tháng 8/1945, ông chính thức nhập ngũ, bắt đầu con đường binh nghiệp kéo dài nhiều thập niên.

Trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp

Trong những năm đầu của Quân đội nhân dân Việt Nam, Lê Đức Anh lần lượt đảm nhiệm nhiều vị trí từ Trung đội trưởng, Chính trị viên đến cán bộ tham mưu cấp quân khu. Từ năm 1948 đến 1950, ông giữ chức Tham mưu trưởng tại Quân khu 7, Quân khu 8 và Đặc khu Sài Gòn – Chợ Lớn. Từ năm 1951 đến 1954, ông làm Tham mưu phó, quyền Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Nam Bộ.

Sau Hiệp định Genève năm 1954, ông tập kết ra miền Bắc và tiếp tục đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng trong Bộ Tổng Tham mưu. Năm 1955, ông được giao làm Cục phó Cục Tác chiến, sau đó là Cục trưởng Cục Quân lực. Năm 1958, ông được phong quân hàm Đại tá.

Người chỉ huy trên chiến trường miền Nam

Tháng 8/1963, Lê Đức Anh giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Đầu năm 1964, ông được điều vào miền Nam với bí danh Sáu Nam, giữ chức Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Năm 1969, ông được giao làm Tư lệnh Quân khu 9. Trong những năm chiến đấu tại miền Nam, ông trực tiếp tham gia chỉ huy nhiều chiến dịch quan trọng. Cuối năm 1974, ông trở lại giữ chức Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam và được phong vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng.

Ông trực tiếp chỉ đạo và tham gia nhiều chiến dịch lớn, trong đó có các hoạt động quân sự mùa khô 1966–1967, chiến đấu chống các hoạt động bình định sau Hiệp định Paris, Chiến dịch Đường 14 – Phước LongChiến dịch Hồ Chí Minh.

Người chỉ huy cánh quân Tây Nam trong mùa Xuân 1975

Năm 1975, Lê Đức Anh được giao giữ chức Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh, kiêm Tư lệnh cánh quân Tây Nam tiến vào Sài Gòn.

Ngày 30/4/1975, ông giữ chức Chủ tịch Ủy ban Quân quản Sài Gòn – Gia Định, đồng thời là Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Ông đảm nhiệm cương vị này đến ngày 3/5/1975.

Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục giữ những trọng trách quân sự quan trọng. Từ năm 1976, ông là Tư lệnh Quân khu 9; từ năm 1978 là Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7, đồng thời chỉ huy cơ quan tiền phương của Bộ Quốc phòng tại mặt trận Tây Nam.

Chỉ huy chiến trường Campuchia

Từ năm 1981, Lê Đức Anh được giao giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia, đồng thời giữ vai trò quan trọng trong công tác chuyên gia Việt Nam tại Campuchia.

Năm 1984, ông được phong quân hàm Đại tướng. Cuối năm 1986, ông được cử giữ chức Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Theo tư liệu trong bài viết, ông là một trong số ít cán bộ quân đội đã trải qua cả bốn chiến trường trong khoảng 40 năm: kháng chiến chống Pháp, chiến trường miền Nam chống Mỹ, chiến trường Campuchia và chiến trường biên giới phía Bắc.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong thời kỳ Đổi mới

Từ tháng 2/1987 đến tháng 8/1991, Lê Đức Anh giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đồng thời là Phó Bí thư thứ nhất Đảng ủy Quân sự Trung ương. Trong thời gian này, ông tham gia hoạch định việc điều chỉnh chiến lược và tổ chức lại lực lượng quân đội phù hợp với tình hình mới.

Năm 1988, trong chuyến công tác tại Trường Sa sau sự kiện Gạc Ma, ông nhấn mạnh quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển đảo và lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Chủ tịch nước trong những năm đầu hội nhập

Năm 1992, Lê Đức Anh được Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, giữ cương vị này từ ngày 23/9/1992 đến tháng 9/1997. Trong nhiệm kỳ của ông, Việt Nam có nhiều bước tiến quan trọng trong quan hệ đối ngoại.

Năm 1995, Việt Nam chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ và gia nhập ASEAN. Lê Đức Anh cũng là nguyên thủ Việt Nam đầu tiên đặt chân tới Hoa Kỳ kể từ khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, khi ông sang tham dự lễ kỷ niệm 50 năm thành lập Liên Hợp Quốc.

Sau khi kết thúc nhiệm kỳ Chủ tịch nước, ông tiếp tục giữ chức Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ năm 1997 đến năm 2001.

Những phần thưởng cao quý

Trong sự nghiệp cách mạng và quân đội, Đại tướng Lê Đức Anh được trao tặng nhiều phần thưởng cao quý, tiêu biểu như Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất cùng nhiều huân chương, huy chương khác.

Một cuộc đời gắn với lịch sử đất nước

Sau khi nghỉ công tác, Lê Đức Anh sống tại Hà Nội và vẫn được các thế hệ lãnh đạo, đồng đội và nhân dân quan tâm, thăm hỏi. Ông qua đời lúc 20 giờ 10 phút ngày 22/4/2019, hưởng thọ 99 tuổi. Lễ tang của ông được tổ chức theo nghi thức Quốc tang vào tháng 5/2019.

Từ một thanh niên xứ Huế sớm tham gia cách mạng, Lê Đức Anh đã trải qua nhiều cương vị trong quân đội và chính trường, trực tiếp tham gia các cuộc chiến tranh và đảm nhiệm những trọng trách cao nhất của Nhà nước. Cuộc đời ông gắn với một giai đoạn dài của lịch sử Việt Nam, từ chiến tranh đến hòa bình, xây dựng và hội nhập.

Đại tướng Lê Đức Anh – người chỉ huy trải qua bốn chiến trường, một trong những vị tướng có dấu ấn sâu đậm trong lịch sử quân đội và đất nước Việt Nam thế kỷ XX.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Đại tướng Lê Đức Anh – Người chỉ huy trải qua bốn chiến trường | Câu chuyện thời hoa lửa