Cựu chiến binh

Đại tướng Lê Đức Anh: Vị tướng tài ba, nhà lãnh đạo xuất sắc, một nhân cách đức độ, giản dị, gần gũi nhân dân

Đại tướng Lê Đức Anh (1920–2019) là một trong những nhà lãnh đạo tiêu biểu của Đảng, Nhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam. Cuộc đời hơn 80 năm hoạt động cách mạng của ông gắn liền với những chặng đường đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc và thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả.

Huế06/08/2026Xã Tùng Vài (Đoàn xã Tùng Vài)22 lượt xem0 lượt chia sẻ
Đại tướng Lê Đức Anh: Vị tướng tài ba, nhà lãnh đạo xuất sắc, một nhân cách đức độ, giản dị, gần gũi nhân dân

Đại tướng Lê Đức Anh – Vị tướng tài ba, nhà lãnh đạo xuất sắc, một nhân cách đức độ, giản dị, gần gũi nhân dân

Đại tướng Lê Đức Anh (1920–2019) là một trong những nhà lãnh đạo tiêu biểu của Đảng, Nhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam. Cuộc đời hơn 80 năm hoạt động cách mạng của ông gắn liền với những chặng đường đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc và thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả. Không chỉ là một vị tướng tài ba, ông còn được biết đến là nhà lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược, luôn gần gũi nhân dân, thương yêu cán bộ, chiến sĩ và sống giản dị, khiêm nhường.

Đại tướng Lê Đức Anh sinh ngày 1 tháng 12 năm 1920 tại xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên – Huế trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước. Từ khi còn rất trẻ, chứng kiến cuộc sống cơ cực của nhân dân dưới ách thống trị của thực dân, ông sớm giác ngộ cách mạng. Năm 1937, khi mới 17 tuổi, ông tham gia phong trào dân chủ và đến tháng 5 năm 1938 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông trực tiếp chỉ huy lực lượng giành chính quyền tại nhiều địa phương ở Bình Phước và tham gia xây dựng chính quyền cách mạng. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng như Tham mưu trưởng Khu 7, Khu 8, Quân khu Sài Gòn – Chợ Lớn và Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Nam Bộ, góp phần xây dựng lực lượng vũ trang và chỉ đạo nhiều chiến dịch quan trọng.

Sau Hiệp định Genève năm 1954, Lê Đức Anh tập kết ra Bắc, giữ nhiều chức vụ trong Bộ Tổng Tham mưu. Đầu năm 1964, ông trở lại chiến trường miền Nam, lần lượt đảm nhiệm các cương vị Tham mưu trưởng, Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh miền Nam, Tư lệnh Quân khu 9 và Ủy viên Quân ủy Miền. Với những đóng góp xuất sắc, tháng 4 năm 1974 ông được phong quân hàm Trung tướng vượt cấp từ Đại tá.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, Trung tướng Lê Đức Anh giữ cương vị Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh kiêm Tư lệnh cánh quân Tây Nam (Đoàn 232). Đây là hướng tiến công đặc biệt khó khăn do địa hình sông ngòi, đầm lầy phức tạp, nhưng có ý nghĩa chiến lược trong việc chia cắt lực lượng đối phương. Dưới sự chỉ huy của ông, cánh quân Tây Nam hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần cùng các cánh quân khác tiến vào Dinh Độc Lập trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Sau ngày đất nước thống nhất, Đại tướng Lê Đức Anh tiếp tục đảm nhận nhiều trọng trách như Tư lệnh Quân khu 9, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia. Ông là một trong những vị tướng trực tiếp chỉ huy cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, đồng thời góp phần giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng. Năm 1986, ông giữ chức Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam; từ năm 1987 là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và đến năm 1992 được bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Không chỉ nổi bật về tài thao lược quân sự, Đại tướng Lê Đức Anh còn là một nhà lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược về quốc phòng và đối ngoại. Trên cương vị Chủ tịch nước, ông góp phần thúc đẩy quá trình bình thường hóa quan hệ đối ngoại, mở rộng hợp tác quốc tế và xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Ông cũng là người đặc biệt quan tâm đến công tác hậu phương quân đội, chăm lo đời sống cán bộ, chiến sĩ và người có công với cách mạng. Năm 1994, ông ký Lệnh công bố Pháp lệnh quy định Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam Anh hùng", thể hiện sự tri ân sâu sắc đối với những hy sinh to lớn của các gia đình Việt Nam.

Điều làm nên hình ảnh đẹp của Đại tướng Lê Đức Anh không chỉ là những chiến công hiển hách mà còn là phẩm chất đạo đức cao quý. Ông luôn đề cao tư tưởng "nhân ái", coi đó là cội nguồn sức mạnh của dân tộc. Trong chiến đấu, ông luôn tìm mọi cách giảm thiểu thương vong cho bộ đội và hạn chế thiệt hại đối với nhân dân. Hình ảnh người chỉ huy yêu cầu bộ đội giúp dân dựng lại nhà sau khi mượn gỗ lót đường cho xe tăng vượt qua vùng sình lầy đã thể hiện rõ tấm lòng nhân hậu và trách nhiệm của ông đối với nhân dân.

Đối với đồng chí, đồng đội, Đại tướng Lê Đức Anh luôn sống chân thành, giản dị, gần gũi và không phân biệt cấp bậc, chức vụ. Dù giữ cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hay Chủ tịch nước, ông vẫn thường xuyên đến thăm các đơn vị, lắng nghe tâm tư của cán bộ, chiến sĩ và quan tâm đến đời sống của họ. Với quê hương, ông luôn dành tình cảm sâu nặng, mỗi lần trở về đều ân cần thăm hỏi bà con, động viên nhân dân đoàn kết, phát triển kinh tế và xây dựng quê hương giàu đẹp.

Với 99 năm tuổi đời và hơn 80 năm tuổi Đảng, Đại tướng Lê Đức Anh đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Ông được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý như Huân chương Sao Vàng, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất cùng nhiều huân, huy chương trong và ngoài nước.

Cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng Lê Đức Anh là biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần cống hiến và trách nhiệm đối với nhân dân. Hình ảnh người chiến sĩ cộng sản kiên trung, vị tướng tài ba, nhà lãnh đạo xuất sắc và một nhân cách đức độ, giản dị sẽ mãi là tấm gương sáng để các thế hệ hôm nay và mai sau học tập, noi theo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn