Đại tướng Lê Đức Anh với nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia
Đại tướng Lê Đức Anh với nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia
Năm 1978, khi tập đoàn phản động Pôn Pốt gây chiến tranh xâm lược toàn tuyến biên giới Tây Nam, đồng chí Lê Đức Anh được điều động về làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7, kiêm Chỉ huy trưởng Tiền phương Bộ Quốc phòng ở Mặt trận Tây Nam. Thực hiện chủ trương của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, đồng chí Lê Đức Anh đã tích cực chỉ đạo Quân khu 7 giúp nước bạn Campuchia xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng ngay trên địa bàn Quân khu.Ngày 07/01/1979, các đơn vị Quân tình nguyện Việt Nam cùng lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân Campuchia đã hoàn toàn làm chủ Phnôm Pênh. Sau thắng lợi quan trọng này, ngày 08/01/1979, Hội đồng nhân dân cách mạng Campuchia được thành lập do đồng chí Heng Samrin làm Chủ tịch. Ngày 17/01/1979, toàn bộ đất nước Campuchia được giải phóng; phần lớn lực lượng Pôn Pốt bị tiêu diệt và tan rã, số còn lại lẩn trốn vào rừng trên tuyến biên giới phía Tây, Tây Bắc Campuchia. 
Thượng tướng Lê Đức Anh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban lãnh đạo đoàn chuyên gia kiêm Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia nghe báo cáo tình hình chiến sự và công tác giúp bạn hồi sinh đất nước tại Sở chỉ huy lãnh đạo đoàn chuyên gia ở Phnôm Pênh, Campuchia, tháng 3/1980 (Ảnh tư liệu) Tháng 2/1980, đồng chí Lê Đức Anh được cử làm Trưởng ban Phụ trách công tác Campuchia. Ngày 29/6/1981, Chủ tịch nước ký quyết định bổ nhiệm đồng chí Lê Đức Anh làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia (Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia, mang phiên hiệu Bộ Tư lệnh 719, thành lập ngày 18/5/1981). Trên cương vị mới, đồng chí Lê Đức Anh đã đề xuất những nhiệm vụ trọng tâm khi cử bộ đội và chuyên gia sang nước bạn: Tập trung “cứu đói, cứu đau” cho nhân dân Campuchia; nhanh chóng khôi phục lại xã hội Campuchia; khôi phục lại sản xuất; vận động binh lính Pôn Pốt bỏ hàng ngũ trở về với gia đình; giúp bạn xây dựng thực lực cách mạng để bạn tự đảm đương công việc của mình. Từ một đội quân chiến đấu, lúc này quân tình nguyện Việt Nam trở thành đội quân vừa chiến đấu, vừa công tác, cùng dân tăng gia sản xuất, khắc phục nạn đói, cùng ăn, cùng ở, cùng làm với nhân dân Campuchia như với chính nhân dân mình. Cán bộ, chiến sĩ Quân tình nguyện đã giúp bạn hồi sinh các “thành phố ma”, những “cánh đồng chết”. Với việc nạn đói và dịch bệnh được khắc chế, cuộc sống của nhân dân Campuchia dần đi vào ổn định. Kết quả công tác “cứu đói - cứu đau” đã khiến người dân Campuchia thực sự tin vào bộ đội Việt Nam, tin vào Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia.
Đồng chí Lê Đức Anh thăm đơn vị 817 tại chiến trường Campuchia năm 1983. (Ảnh tư liệu) Thời điểm này, đồng chí Lê Đức Anh cũng chỉ đạo các đơn vị Quân tình nguyện cùng lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia đánh bại các cuộc phản kích và truy quét, làm tan rã một bộ phận lớn tàn quân Pôn Pốt, giữ vững thành quả cách mạng; đồng thời giúp bạn xây dựng công trình phòng thủ biên giới mang tên “K5” với chiều dài 800 km.
Những người lính tình nguyện Việt Nam trở về năm 1989, sau 10 năm chiến đấu
bảo vệ đất nước bạn. (Ảnh tư liệu) Trong những năm làm nhiệm vụ quốc tế trên đất bạn Campuchia - một nhiệm vụ vô cùng khó khăn, phức tạp, mang tính đặc thù, với biết bao gian nan thử thách, đồng chí Lê Đức Anh luôn quan tâm giáo dục, động viên bộ đội và chuyên gia vượt qua khó khăn, gian khổ, hy sinh để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế cao cả. Dưới sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của đồng chí Lê Đức Anh, Quân tình nguyện và Chuyên gia Việt Nam cùng quân dân Campuchia đã thực hiện thắng lợi ba mục tiêu chiến lược của cách mạng Campuchia, được xác định trong Nghị quyết số 39 ngày 15/2/1983 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia, đó là: 1. Tiếp tục làm cho quân Pôn Pốt tan rã, suy tàn hơn nữa; 2. Tiếp tục xây dựng thực lực cách mạng Campuchia mạnh hơn cả về số lượng và chất lượng, đủ sức đảm nhiệm cuộc đấu tranh thắng lợi với mọi kẻ thù, bảo vệ và phát triển thành quả cách mạng, bảo vệ và xây dựng đất nước; 3. Bảo đảm đoàn kết liên minh chiến lược, chiến đấu Campuchia - Việt Nam trên một thế vững chắc hơn và mạnh hơn”. [1] “Hơn mười năm giúp bạn, ta và bạn đã làm nên cuộc cách mạng giải phóng một dân tộc khỏi họa diệt chủng của tập đoàn Pôn Pốt, hồi sinh một đất nước từ tiêu điều, tan nát, đói rách để mọi người dân có quyền được sống, quyền mưu cầu hạnh phúc. Một đất nước có chủ quyền với hệ thống chính trị mới được xây dựng từ trung ương đến cơ sở xã ấp, cùng với những thiết chế văn hóa, xã hội bảo đảm sự độc lập của đất nước và quyền tự chủ của người dân, là nền tảng vững chắc để tiến lên xây dựng xã hội mới, cuộc sống mới”. [2]

Thượng tướng Lê Đức Anh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban lãnh đạo đoàn chuyên gia kiêm Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia nghe báo cáo tình hình chiến sự và công tác giúp bạn hồi sinh đất nước tại Sở chỉ huy lãnh đạo đoàn chuyên gia ở Phnôm Pênh, Campuchia, tháng 3/1980 (Ảnh tư liệu) Tháng 2/1980, đồng chí Lê Đức Anh được cử làm Trưởng ban Phụ trách công tác Campuchia. Ngày 29/6/1981, Chủ tịch nước ký quyết định bổ nhiệm đồng chí Lê Đức Anh làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia (Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia, mang phiên hiệu Bộ Tư lệnh 719, thành lập ngày 18/5/1981). Trên cương vị mới, đồng chí Lê Đức Anh đã đề xuất những nhiệm vụ trọng tâm khi cử bộ đội và chuyên gia sang nước bạn: Tập trung “cứu đói, cứu đau” cho nhân dân Campuchia; nhanh chóng khôi phục lại xã hội Campuchia; khôi phục lại sản xuất; vận động binh lính Pôn Pốt bỏ hàng ngũ trở về với gia đình; giúp bạn xây dựng thực lực cách mạng để bạn tự đảm đương công việc của mình. Từ một đội quân chiến đấu, lúc này quân tình nguyện Việt Nam trở thành đội quân vừa chiến đấu, vừa công tác, cùng dân tăng gia sản xuất, khắc phục nạn đói, cùng ăn, cùng ở, cùng làm với nhân dân Campuchia như với chính nhân dân mình. Cán bộ, chiến sĩ Quân tình nguyện đã giúp bạn hồi sinh các “thành phố ma”, những “cánh đồng chết”. Với việc nạn đói và dịch bệnh được khắc chế, cuộc sống của nhân dân Campuchia dần đi vào ổn định. Kết quả công tác “cứu đói - cứu đau” đã khiến người dân Campuchia thực sự tin vào bộ đội Việt Nam, tin vào Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia.

Đồng chí Lê Đức Anh thăm đơn vị 817 tại chiến trường Campuchia năm 1983. (Ảnh tư liệu) Thời điểm này, đồng chí Lê Đức Anh cũng chỉ đạo các đơn vị Quân tình nguyện cùng lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia đánh bại các cuộc phản kích và truy quét, làm tan rã một bộ phận lớn tàn quân Pôn Pốt, giữ vững thành quả cách mạng; đồng thời giúp bạn xây dựng công trình phòng thủ biên giới mang tên “K5” với chiều dài 800 km.

Những người lính tình nguyện Việt Nam trở về năm 1989, sau 10 năm chiến đấu
bảo vệ đất nước bạn. (Ảnh tư liệu) Trong những năm làm nhiệm vụ quốc tế trên đất bạn Campuchia - một nhiệm vụ vô cùng khó khăn, phức tạp, mang tính đặc thù, với biết bao gian nan thử thách, đồng chí Lê Đức Anh luôn quan tâm giáo dục, động viên bộ đội và chuyên gia vượt qua khó khăn, gian khổ, hy sinh để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế cao cả. Dưới sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của đồng chí Lê Đức Anh, Quân tình nguyện và Chuyên gia Việt Nam cùng quân dân Campuchia đã thực hiện thắng lợi ba mục tiêu chiến lược của cách mạng Campuchia, được xác định trong Nghị quyết số 39 ngày 15/2/1983 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia, đó là: 1. Tiếp tục làm cho quân Pôn Pốt tan rã, suy tàn hơn nữa; 2. Tiếp tục xây dựng thực lực cách mạng Campuchia mạnh hơn cả về số lượng và chất lượng, đủ sức đảm nhiệm cuộc đấu tranh thắng lợi với mọi kẻ thù, bảo vệ và phát triển thành quả cách mạng, bảo vệ và xây dựng đất nước; 3. Bảo đảm đoàn kết liên minh chiến lược, chiến đấu Campuchia - Việt Nam trên một thế vững chắc hơn và mạnh hơn”. [1] “Hơn mười năm giúp bạn, ta và bạn đã làm nên cuộc cách mạng giải phóng một dân tộc khỏi họa diệt chủng của tập đoàn Pôn Pốt, hồi sinh một đất nước từ tiêu điều, tan nát, đói rách để mọi người dân có quyền được sống, quyền mưu cầu hạnh phúc. Một đất nước có chủ quyền với hệ thống chính trị mới được xây dựng từ trung ương đến cơ sở xã ấp, cùng với những thiết chế văn hóa, xã hội bảo đảm sự độc lập của đất nước và quyền tự chủ của người dân, là nền tảng vững chắc để tiến lên xây dựng xã hội mới, cuộc sống mới”. [2]



