ĐẠI TƯỚNG LÊ TRỌNG TẤN - BẬC THẦY MƯU LƯỢC VÀ VỊ TƯỚNG CỦA NHỮNG CHIẾN CÔNG QUYẾT ĐỊNH [Đoàn trường THPT Hai Bà Trưng]
ĐẠI TƯỚNG LÊ TRỌNG TẤN - VỊ TƯỚNG CỦA NHỮNG TRẬN ĐÁNH QUYẾT ĐỊNH
![ĐẠI TƯỚNG LÊ TRỌNG TẤN - BẬC THẦY MƯU LƯỢC VÀ VỊ TƯỚNG CỦA NHỮNG CHIẾN CÔNG QUYẾT ĐỊNH [Đoàn trường THPT Hai Bà Trưng]](https://static.cauchuyenlichsu.tino.vn/media/rdwhzauz/le-trong-tan.jpg)
Trong lịch sử quân sự Việt Nam thế kỷ XX, Đại tướng Lê Trọng Tấn nổi lên như một biểu tượng của tài năng quân sự thiên bẩm, sự quyết đoán trong chỉ huy và đức độ khiêm nhường trong cuộc sống. Ông là người duy nhất hai lần chỉ huy quân đội bắt sống tướng chỉ huy cao nhất của đối phương trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc.
Đại tướng Lê Trọng Tấn sinh ngày 1/10/1914 tại Hà Đông (nay là Hà Nội). Xuất thân từ một gia đình có truyền thống học vấn, ông sớm bộc lộ tư chất thông minh và lòng tự tôn dân tộc sâu sắc. Trước khi đến với cách mạng, ông từng là một cầu thủ bóng đá tài năng và có thời gian ngắn phục vụ trong quân đội Pháp. Chính những trải nghiệm thực tế này đã giúp ông hiểu rõ bản chất của quân đội viễn chinh, từ đó hình thành những tư duy quân sự sắc bén ngay từ khi tham gia Việt Minh vào năm 1944.
Suốt hai cuộc kháng chiến, Đại tướng Lê Trọng Tấn luôn được tin tưởng giao trọng trách tại các mặt trận then chốt nhất. Năm 1950, ông trở thành Đại đoàn trưởng đầu tiên của Đại đoàn 312 (Đoàn Chiến Thắng). Dưới sự chỉ huy của ông, 312 đã trở thành một trong những đơn vị chủ lực tinh nhuệ nhất.Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954): Đây là dấu son chói lọi đầu tiên. Đại đoàn 312 của ông không chỉ đánh trận mở màn thắng lợi tại Him Lam mà còn là đơn vị cuối cùng tấn công vào trung tâm Mường Thanh, bắt sống tướng De Castries, kết thúc hoàn toàn sự đô hộ của thực dân Pháp tại Đông Dương.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ông giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng và thường xuyên có mặt tại chiến trường miền Nam với mật danh Ba Long. Ông là người đặt nền móng cho lối đánh hiệp đồng binh chủng quy mô lớn. Ông trực tiếp chỉ huy Chiến dịch giải phóng Đà Nẵng chỉ trong vòng 3 ngày. Sau đó, với vai trò Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh, ông chỉ huy Cánh quân phía Đông thần tốc tiến về Sài Gòn. Trưa ngày 30/4/1975, các đơn vị dưới quyền ông đã có mặt tại Dinh Độc Lập, bắt sống nội các chính quyền Sài Gòn, hoàn thành sứ mệnh thống nhất đất nước.
Các chuyên gia quân sự trong và ngoài nước gọi ông là "Zhukov của Việt Nam" (vị nguyên soái lừng danh của Liên Xô) bởi sự tương đồng trong lối đánh: Chắc chắn, sắc sảo, quyết liệt và luôn nắm chắc phần thắng. Ông có khả năng phán đoán tình huống cực kỳ nhạy bén. Trong những thời điểm khó khăn nhất, sự có mặt của Lê Trọng Tấn tại mặt trận luôn là "liều thuốc" trấn an tinh thần cho chiến sĩ. Dù là một vị tướng quyết đoán, nhưng ông luôn trăn trở làm sao để giành chiến thắng với tổn thất thấp nhất cho bộ đội. Ông thường nói: "Tướng giỏi không chỉ là người thắng trận, mà là người biết thắng mà ít tốn máu xương nhất".
Sau chiến tranh, dù giữ chức vụ cao nhất trong quân đội là Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Lê Trọng Tấn vẫn giữ lối sống giản dị, gần gũi. Ông được cấp dưới kính trọng không chỉ vì tài năng mà còn vì sự công tâm, liêm chính. Ông qua đời đột ngột vào năm 1986, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho nhân dân và quân đội. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từng nhận xét về ông: "Lê Trọng Tấn là một trong những vị tướng giỏi nhất, một người chỉ huy kiệt xuất, một người đồng chí mẫu mực".


