Đại tướng Lê Trọng Tấn - “Giu-cốp của Việt Nam”
Ông sinh năm 1914, mất năm 1986, quê ở làng Nghĩa Lộ, xã Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức. Ông từng giữ các chức vụ quan trọng: Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.
Thuở nhỏ, ông học trường Bưởi (nay là trường Chu Văn An) và từng được tuyển vào Câu lạc bộ bóng đá không quân của Pháp. Năm 1944, ông tham gia Việt Minh. Ngày 27-2-1947, Trung đoàn Tây Tiến được thành lập, ông là một trong những chỉ huy tiểu đoàn đầu tiên.
Năm 1950, Đại đoàn 312 được thành lập, ông là Đại đoàn trưởng đầu tiên khi mới 36 tuổi. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, Đại đoàn 312 do ông chỉ huy đã đánh trận mở đầu thắng lợi vào cứ điểm Him Lam và trong đợt tiến công cuối cùng, đơn vị do ông chỉ huy đã bắt sống tướng Đờ Cát và Bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm. Tháng 3 năm 1975, ông làm Tư lệnh chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng, đánh tan Quân đoàn I, Quân khu I Việt Nam Cộng hòa khi mà tại căn cứ Liên hợp Quân sự Đà Nẵng còn tới gần 10 vạn quân cộng với vũ khí hiện đại. Tháng 4 năm 1975, ông được cử làm Phó tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh kiêm Tư lệnh cánh quân phía Đông. Bằng óc phán đoán và phân tích chiến lược, ông đã đề nghị cho cánh quân nổ súng trước giờ G để đối phương không kịp co cụm hay phá hủy cầu. Cánh quân của ông đã tiến vào dinh Độc Lập đầu tiên.
Tháng 7 năm 1983, 70 tuổi, ông vẫn chỉ huy trận đánh bảo vệ biên giới phía Bắc. Ông nổi tiếng là vị tướng của trận mạc, thường được mọi người yêu mến ví ông với Nguyên soái Giu-cốp của quân đội Liên Xô.
Cuộc đời ông đã có mặt hầu hết ở các chiến trường nóng bỏng và đã chỉ huy hàng trăm trận đánh nhưng có hai mốc son lịch sử: Năm 1954, ông là Đại đoàn trưởng chỉ huy đơn vị bắt sống tướng Đờ Cát. Năm 1975, ông là Tư lệnh trưởng, chỉ huy các binh đoàn đánh phía Đông vào Dinh Độc lập, bắt sống tướng Dương Văn Minh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói về ông: Hai trận đánh xứng đáng hai lần anh hùng.



