Đại tướng Lê Trọng Tấn - Một trong những vị tướng giỏi nhất Việt Nam
Bài viết tổng hợp toàn bộ thông tin từ các văn bản về cuộc đời, quá trình hoạt động cách mạng, tài năng quân sự xuất chúng, các mốc chiến công lịch sử, tình đồng đội và cuộc sống đời thường của Đại tướng Lê Trọng Tấn - người được mệnh danh là Nguyên soái Zhukov của Việt Nam.

I. Tiểu sử, nguồn gốc và thời thanh niên.
Đại tướng Lê Trọng Tấn, tên thật là Lê Trọng Tố, bí danh Ba Long, sinh ngày 1-10-1914 và mất ngày 5-12-1986. Ông sinh ra trong một gia đình trí thức, nhà nho nghèo tại làng Nghĩa Lộ, xã Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây (nay là phường Yên Nghĩa, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội). Quê hương Yên Nghĩa của ông có truyền thống yêu nước và cách mạng, thời kỳ trước cách mạng nhân dân xã đã nuôi giấu nhiều nhà cách mạng sau này trở thành lãnh đạo cao cấp của Việt Nam như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh, Trần Quốc Hoàn. Đây chính là An toàn khu của Xứ ủy Bắc Kỳ thời tiền khởi nghĩa.
Ông sống từ nhỏ ở khu Đầm Trấu (nay thuộc quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) với tuổi thơ nghèo khó và cơ cực. Năm 7 tuổi ông mồ côi cha, vừa đi học vừa kiếm sống bằng nhiều nghề từ cắt chữ cho một nhà in đến vẽ truyền thần và đi bán bánh mỳ.
Dù vất vả bươn trải, ông rất ham mê bóng đá và võ nghệ từ nhỏ. Khi là học sinh của trường Bưởi (nay là trường THPT Chu Văn An ở Hà Nội), ông thường ra bãi Phúc Xá gần cầu Long Biên đá bóng đến tối mịt. Thấy ông đá bóng giỏi, không quân Pháp đã tuyển ông vào Câu lạc bộ bóng đá Không quân của Pháp. Sau đó, có một thời gian ông là lính khố đỏ.

(Chân dung Đại tướng Lê Trọng Tấn khi còn trẻ)
II. Quá trình hoạt động cách mạng và lịch sử công tác
1. Thời kỳ tiền khởi nghĩa và kháng chiến chống Pháp
Biết ông là con một nhà nho nghèo, yêu nước, bị bắt ép vào lính nên Đảng và Việt Minh đã cử người giác ngộ. Đầu năm 1944, ông tự nguyện bỏ Câu lạc bộ bóng đá Không quân của Pháp để tham gia cách mạng.
Năm 1944, ông tham gia Mặt trận Việt Minh và làm công tác địch vận, bình vận tại khu vực Hoàng Mai, Bạch Mai, Hà Nội.
Tháng 6-1945, ông cùng một số đồng chí khác chỉ huy diệt và chiếm đồn Đồng Quan, sau đó được cử làm Ủy viên phụ trách quân sự trong Ủy ban khởi nghĩa tỉnh Hà Đông và tham gia chỉ đạo cướp chính quyền tỉnh. Trận chiếm đồn Đồng Quan diễn ra bằng mưu kế, chỉ với hai khẩu súng và kéo dài vài phút mà không mất một viên đạn, một giọt máu, vừa gây thanh thế cho cách mạng vừa lấy thóc cứu đói dân, hé lộ phẩm chất của một tài năng quân sự lỗi lạc.
Tháng 8-1945, ông chính thức nhập ngũ.
Năm 1946, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Sơn La hoạt động ở vùng núi rừng Tây Bắc.
Năm 1949, ông làm Trung đoàn trưởng kiêm Chính ủy Trung đoàn 209.

(Ảnh chụp năm 1949 trước chiến dịch Biên Giới Thu Đông 1950. Từ trái qua phải: Trung tướng Cao Văn Khánh, Đại đoàn phó Đại đoàn Quân Tiên Phong 308; Đại tướng Võ Nguyên Giáp; Đại tướng Lê Trọng Tấn (khi này là Trung đoàn trưởng kiêm chính ủy 209); Trung tướng Bằng Giang, khi chụp là Tư lệnh Liên khu 10)
Năm 1950, Đại đoàn 312 được thành lập, ông giữ chức Đại đoàn trưởng đầu tiên khi mới 36 tuổi.
Năm 1953, ông là Đại đoàn trưởng, Phó bí thư Đại đoàn ủy Đại đoàn 312. Ông đã trực tiếp tham gia các chiến dịch Biên giới (1950), Hòa Bình (1951), Tây Bắc (1952), Thượng Lào (1953) và Điện Biên Phủ (1954).
Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954), tài xoay sở và bản lĩnh của ông thể hiện qua lần đầu tiên cãi lệnh chỉ huy. Cuối tháng 1-1954, khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định chuyển phương án từ đánh nhanh thắng nhanh sang đánh chắc tiến chắc, Đại đoàn 312 do ông chỉ huy vừa tốn rất nhiều công sức và xương máu để đưa pháo vào trận địa. Thay đổi phương án đồng nghĩa với việc phải kéo pháo ra, dội gáo nước lạnh vào khí thế bộ đội nên ông đã phản ứng với Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp. Tuy nhiên, cuối cùng ông vẫn chấp hành nghiêm chỉnh vì quân lệnh như sơn. Trong chiến dịch này, ông chỉ huy Đại đoàn 312 từ cánh quân phía Đông đánh vào trung tâm sở chỉ huy địch ở Mường Thanh, bắt sống tướng De Castries. Đại đoàn 312 là đại đoàn duy nhất không có trục trặc trong chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ từ trận mở màn đến khi kết thúc chiến dịch.

(Đại tướng Võ Nguyên Giáp trao lá cờ "Quyết chiến quyết thắng" cho Đại đoàn 312 do đồng chí Lê Trọng Tấn làm Đại đoàn trưởng)
Tháng 12-1954, ông làm Hiệu trưởng Trường Sỹ quan Lục quân Việt Nam.
2. Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Năm 1961, ông được phong quân hàm Thiếu tướng và làm Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tháng 9-1964, trên chiếc tàu buôn tỏi của nước ngoài, ông và tướng Nguyễn Chí Thanh được đặc phái vào Nam để giải bài toán đánh Mỹ. Ông nhận nhiệm vụ Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, Ủy viên Quân ủy Miền. Ông trực tiếp tham gia chỉ đạo các chiến dịch Bình Giã, Đồng Xoài, Bàu Bàng - Dầu Tiếng (1965), chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân Giăngxơn Xity của quân Mỹ và ngụy vào chiến khu Dương Minh Châu (Tây Ninh - 1967). Chiến dịch Bình Giã nổ ra làm chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ bị lung lay tận gốc, phong trào tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt, bám thắt lưng địch mà đánh lan rộng khắp các chiến trường.

(Tướng Lê Trọng Tấn nghiên cứu tình hình chiến trường miền Nam năm 1965)

(Đại tướng Lê Trọng Tấn và ông Trần Độ trong chiến trường miền Nam năm 1965)

(Tướng Lê Trọng Tấn (bên trái ảnh) và tướng Trần Độ tại rừng miền Đông Nam Bộ trong kháng chiến chống Mỹ)

(Thiếu tướng Lê Trọng Tấn báo cáo tình hình với Đại tướng Võ Nguyên Giáp trước khi lên đường vào chiến trường miền Nam năm 1966)
Từ năm 1970, trên cương vị Phó Tổng Tham mưu trưởng, ông liên tục được cử làm Tư lệnh các chiến dịch lớn như Đường 9 - Nam Lào, Cánh Đồng Chum (1971), Chiến dịch Trị - Thiên (1972) và trở thành một trong những Tư lệnh chiến dịch, chỉ huy tác chiến hiệp đồng binh chủng giỏi nhất của quân đội ta.
Đầu năm 1971, khi địch mở cuộc hành quân Lam Sơn 719 tiến ra Đường 9 và Nam Lào nhằm đánh Sê Pôn, chặn đường mòn Hồ Chí Minh với 3 vạn quân chủ lực, 450 xe tăng, 250 khẩu pháo, 700 máy bay và ngạo mạn tuyên bố sẽ đón các nhà báo quốc tế tại Sê Pôn, Quân ủy Trung ương đã mở chiến dịch Đường 9 - Nam Lào do Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh và Lê Quang Đạo làm Chính ủy. Trong cuốn Người lữ hành lặng lẽ của nhà văn Hữu Mai ghi lại, khi Cục phó Tuyên huấn Hồng Cư báo tin chính quyền Sài Gòn hủy kế hoạch đưa phóng viên phương Tây đến Sê Pôn, Lê Trọng Tấn suy nghĩ rồi nói địch sắp rút và quyết đoán ra lệnh phải chuẩn bị đánh địch rút lui. Mười ngày tiếp đó ta dồn dập tiến công, đến ngày 18-3-1971 đối phương phải bỏ Bản Đông tháo chạy, cuộc hành quân Lam Sơn 719 bị đập tan.

(Trung tướng Cao Văn Khánh (bên trái) và Đại tướng Lê Trọng Tấn (bên phải) tại chiến dịch Đường 9 - Nam Lào)

(Đại tướng Võ Nguyên Giáp với Tư lệnh Chiến dịch Đường 9-Nam Lào Lê Trọng Tấn (ngoài cùng, bên phải) sau chiến thắng tháng 2/1971)

(Đồng chí Lê Trọng Tấn giới thiệu cho cán bộ cao cấp, trung cấp về kinh nghiệm đánh tiêu diệt lớn quân địch trong công sự vững chắc (tháng 7-1971). Ảnh tư liệu)

(Đồng chí Lê Trọng Tấn (ngoài cùng bên trái) tại Sở Chỉ huy mặt trận Quảng Trị năm 1972. Ảnh: Tư liệu)

(Đại tướng Lê Trọng Tấn tư lệnh mặt trận Thừa Thiên Huế trong mùa hè đỏ lửa 1972)
Năm 1974, ông được phong quân hàm Trung tướng.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975:
a. Tại chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng (tháng 3-1975), ông làm Tư lệnh chiến dịch. Đây là lần thứ hai ông cãi chỉ huy. Kế hoạch ban đầu tướng Lê Trọng Tấn đề xuất đặt mục tiêu đánh chiếm trong 5 ngày. Đại tướng Võ Nguyên Giáp không tán thành vì cho rằng 5 ngày quá dài, địch có thể tháo chạy về Sài Gòn củng cố lực lượng phòng thủ. Trong hồi ký, Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể lại:
Anh Tấn vẫn giữ ý kiến và trình bày: Đánh như vậy không thể chuẩn bị kịp. Tôi nói, giọng có phần gay gắt: Tư lệnh mặt trận là anh nên tôi để anh ra lệnh. Nếu là người khác, thì tôi ra lệnh: Đánh Đà Nẵng theo phương án chuẩn bị 3 ngày... Anh Tấn không phát biểu thêm, nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh. Sau này anh đã đến gặp tôi, thân tình nhắc lại cuộc tranh cãi về phương án 5 ngày và 3 ngày, rồi vui vẻ nhận khuyết điểm. Đúng là con người trung thực, thẳng thắn, cương trực, đáng quý biết bao!
Kết quả, ông đã chỉ huy quân tiến đánh làm chủ căn cứ liên hợp quân sự Đà Nẵng, đánh tan Quân đoàn 1, Quân khu 1 Việt Nam Cộng hòa với 10 vạn quân và trang bị hiện đại chỉ trong 3 ngày.
b. Sau khi giải phóng Đà Nẵng, lần thứ ba ông phản đối kế hoạch ban đầu và đã hoàn toàn thuyết phục được chỉ huy. Ông đề nghị Bộ Tổng Tư lệnh thành lập Cánh quân phía Đông vừa tiến vừa đánh theo đường duyên hải, trái ngược với kế hoạch ban đầu là gấp rút di chuyển qua Tây Nguyên để tiến công Sài Gòn. Cánh quân Duyên hải dưới sự chỉ huy của ông đã thực hiện cuộc hành quân thần tốc gồm 4 vạn người với hàng nghìn xe các loại, vượt hàng nghìn km, xuyên qua 3 quân khu địch, vượt 50 con sông, 600 cầu áp sát Sài Gòn. Đến cửa ngõ Sài Gòn, ông gửi bức điện ra Tổng hành dinh lúc nửa đêm đề nghị cho cánh quân của mình nổ súng trước giờ G làm đối phương không kịp co cụm hay phá hủy cầu. Chính cánh quân phía Đông của ông đã bắt sống hai tướng ngụy, sau đó Lữ đoàn xe tăng 203, Quân đoàn 2 thuộc cánh quân của ông tiến vào Dinh Độc Lập đầu tiên, bắt sống Tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh và nội các, buộc họ đầu hàng vô điều kiện, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ.

(Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh tại căn cứ Tà Thiết – Lộc Ninh, trong đó Trung tướng Lê Đức Anh là Phó Tư lệnh cùng với các đồng chí Thượng tướng Trần Văn Trà, Trung tướng Đinh Đức Thiện và Trung tướng Lê Trọng Tấn (1975))

(Đồng chí Lê Trọng Tấn, Phó tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh (ngồi hàng trước, thứ ba từ phải sang) vui mừng chiến thắng với cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 2, tháng 5-1975. Ảnh tư liệu)
3. Giai đoạn sau năm 1975, bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế
Sau khi đất nước thống nhất, ông đảm nhiệm các cương vị: Phó Tổng Tham mưu trưởng kiêm Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao; Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.
Năm 1980, ông được phong quân hàm Thượng tướng.
Cuối năm 1978, đầu năm 1979, ông chỉ huy các lực lượng vũ trang trong chiến tranh biên giới Tây Nam và đánh quân Khmer Đỏ ở Campuchia, tham gia chỉ huy lực lượng Quân tình nguyện Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia.

(Phó Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam Lê Trọng Tấn (ngoài cùng, phải) nghe báo cáo tình hình mặt trận Campuchia (1/1979). Ảnh: Tư liệu)

(Đại tướng Chu Huy Mân chụp ảnh cùng Đại tướng Lê Trọng Tấn (thứ nhất từ trái sang), Đại tướng Võ Nguyên Giáp (thứ 3 từ trái sang), Đại tướng Văn Tiến Dũng (thứ 4 từ trái sang), 1981)
Năm 1983, khi đã gần 70 tuổi, ông vẫn trực tiếp chỉ huy trận đánh bảo vệ biên giới phía Bắc.
Năm 1984, ông được phong quân hàm Đại tướng.
Ông là Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương), Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IV, V và là Đại biểu Quốc hội khóa VII.
Đại tướng Lê Trọng Tấn đột ngột từ trần ngày 5-12-1986 tại Hà Nội, ngay trước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đúng nửa tháng.
III. Tài năng quân sự, phẩm chất đạo đức và đời sống cá nhân
1. Tài năng quân sự và danh xưng Nguyên soái Zhukov của Việt Nam

(Đại tướng Lê Trọng Tấn)
Đại tướng Lê Trọng Tấn là một trong những thiên tài quân sự, nhà lãnh đạo kiệt xuất của Quân đội nhân dân Việt Nam. Cuộc đời ông có mặt hầu hết ở các chiến trường nóng bỏng từ Bắc, Trung, Nam và chỉ huy hàng trăm trận đánh. Không chiến trường nào không lưu dấu chân ông, không cuộc chiến tranh nào dù chống Pháp, chống Mỹ, chống bọn diệt chủng Pol Pot hay bảo vệ biên giới phía Bắc lại không cần đến tài năng quân sự của ông. Ông luôn được tin cậy giao nhiệm vụ gây dựng nền móng ban đầu cho những công việc hệ trọng và mới mẻ. Từ một chỉ huy cấp phân đội, ông phát triển lên Đại đoàn trưởng, rồi Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
Ông được mệnh danh là tướng trận, tướng tấn công, vị tướng trăm trận trăm thắng và thường được ví như Nguyên soái Zhukov của Quân đội Liên Xô - kiến trúc sư cho các chiến thắng chủ chốt của Hồng quân Liên Xô trước quân đội phát xít Đức trong Thế chiến thứ 2. Các nhà khoa học quân sự và quân đội anh em kính nể ông về tài năng, đức độ. Ông đánh giá đúng tình hình, biết địch biết ta, thể hiện tài năng của người chỉ huy trận mạc. Ông là hình mẫu của quân lệnh như sơn, thẳng thắn, nghiêm túc, bao dung, biết đánh nhưng cũng biết dừng để bảo toàn lực lượng.
Ông đi đến đâu, chỉ huy chiến dịch nào, mũi tiến công vào đâu, tướng lĩnh, cán bộ, chiến sĩ của các quân đoàn do ông chỉ huy đều đoàn kết một lòng một dạ tin tưởng, vững tâm vào tài năng, thông minh, sáng tạo, nhanh nhạy, quyết đoán. Kẻ thù nghe tin tướng Ba Long chỉ huy chiến dịch nào đều sợ hãi, hoảng loạn, co cụm, bạc nhược và tệ liệt sức chiến đấu.
Lịch sử ghi lại trong một lần tiếp Đoàn quân sự Việt Nam, Chủ tịch Cuba Fidel Castro bắt tay Đại tướng Lê Trọng Tấn rồi hỏi mọi người xung quanh: Đây có phải là tướng đánh hay nhất Việt Nam?. Đại tướng Võ Nguyên Giáp trả lời: Đúng, đây là một trong những vị tướng giỏi nhất Việt Nam.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.

(Đại tướng Lê Trọng Tấn (thứ hai từ trái qua) và Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng một số cán bộ trao đổi công việc)
Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận xét về ông:
Đại tướng Lê Trọng Tấn - người chỉ huy kiên cường, lỗi lạc, người bạn chiến đấu chí thiết. Đại tướng cũng đánh giá ông là người chỉ huy dũng cảm và sáng tạo, mưu lược và quyết đoán, có ý thức trách nhiệm và ý thức tổ chức kỷ luật rất cao, trong hoàn cảnh gay go phức tạp thế nào, đồng chí cũng tìm cách khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ.
Với hai mốc son lịch sử kết thúc hai cuộc chiến tranh là chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 và chiến dịch Hồ Chí Minh 1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định hai trận đánh xứng đáng hai lần anh hùng.

(Đại tướng Lê Trọng Tấn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong một chuyến đi chơi)
2. Tấm lòng đối với chiến sĩ và tinh thần trách nhiệm
Khi cầm quân, Đại tướng luôn được cán bộ chiến sĩ dưới quyền tin tưởng, sẵn sàng cùng ông chiến đấu, hy sinh để giành thắng lợi. Thắng lợi trong từng trận đánh tất yếu có sự hy sinh đổ máu. Người mà ông nhớ nhất là những chiến sĩ đã bỏ mình nơi chiến trận, mãi mãi không trở về. Ông không bao giờ chấp nhận câu nói: Trận này ta thiệt hại không đáng kể. Với ông, xương máu của chiến sĩ là vô giá và ông luôn thận trọng tìm ra cách đánh ít tổn thất nhất. Sau này mỗi khi có thời gian và điều kiện trở lại chiến trường, đến các nghĩa trang thắp hương cho các liệt sĩ, không ít lần mắt ông đã đỏ hoe vì xúc động, thương tiếc đồng đội.
Ông là tấm gương dám chịu trách nhiệm trước cấp dưới.
Trong một trận đánh bảo vệ biên giới ta không thành công, Thủ tướng Phạm Văn Đồng có nhiều ý kiến phê phán khá gay gắt và chất vấn: Trách nhiệm này thuộc về ai?. Dù không chỉ huy trực tiếp nhưng trước thất bại của trận đánh và sự hy sinh của chiến sĩ, Đại tướng Lê Trọng Tấn vẫn đứng lên trả lời: Thưa anh, trách nhiệm thuộc về tôi - Tổng tham mưu trưởng.
Hành động sẵn sàng chịu trách nhiệm, nhận lỗi cho cấp dưới khiến mọi người càng tin yêu, khâm phục ông.
3. Tình cảm với Hà Nội và gia đình
Dù danh tiếng vang xa trong nước và quốc tế, trước hết ông vẫn là một người con sinh ra và lớn lên ở thủ đô, dành cho Hà Nội một tình cảm đặc biệt. Khi đã là cán bộ cấp cao ông vẫn sống khiêm nhường trong một căn nhà nhỏ ở phố Hoàng Diệu, sau chuyển sang phố Lý Nam Đế. Mỗi khi xe đi trên đường đê sông Hồng, đôi mắt vị Đại tướng lại trở nên xa xăm dõi về khu Đầm Trấu nhớ thuở bé theo cha đi dạy học hoặc bãi Phúc Xá lúc thiếu thời say sưa cùng trái bóng.

(Đồng chí Lê Trọng Tấn cùng vợ và con trai-Lê Đông Hải tại Hạ Hòa, Phú Thọ năm 1950, sau Chiến dịch Biên Giới. Ảnh do gia đình cung cấp)
Người gần gũi ông nhất chính là vợ ông, bà Nguyễn Thị Minh Sơn. Bà là người phụ nữ đảm đang, chăm chồng hết mực, tảo tần ở nhà phụng dưỡng mẹ già, chăm sóc con nhỏ khi ông đi chiến trường liên miên. Đến khi ông đã là Đại tướng, Ủy viên Trung ương Đảng, ở nhà bà vẫn nuôi lợn, trồng rau. Ông tôn trọng và thủy chung trước sau như một với bà.
Con trai duy nhất của ông là Đại tá, Giáo sư, Tiến sĩ Lê Đông Hải, nguyên Viện trưởng Phân viện kỹ thuật quân sự phía Nam. Tổng thời gian hai cha con ở gần nhau không quá 2 năm.
Trong thời gian cuối đời của ông, khi Lê Đông Hải từ Thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội chuẩn bị sang Liên Xô công tác, về nhà thấy ông nằm trên võng, mặt buồn và khóe mắt long lanh ướt. Hôm sau tại phòng chờ sân bay Nội Bài, ông đột ngột xuất hiện với đôi mắt nặng trĩu, nắm chặt tay con và nhẹ nhàng bảo: Con cứ yên tâm đi đi. Chỉ hơn một tháng sau, từ nước Nga, người con bàng hoàng nhận tin ông qua đời.

(Vợ chồng Đại tướng Lê Trọng Tấn với con trai Lê Đông Hải. Ảnh tư liệu)
IV. Phần thưởng cao quý và sự tưởng niệm
Đảng và Nhà nước đã trao tặng Đại tướng Lê Trọng Tấn nhiều phần thưởng cao quý:
* Huân chương Sao vàng (truy tặng năm 2007)
* Huân chương Hồ Chí Minh
* Huân chương Quân công (hạng Nhất, hạng Ba)
* Huân chương Chiến thắng hạng Nhất
* Huân chương Kháng chiến hạng Nhất

(Phần mộ và bia mộ của Đại tướng Lê Trọng Tấn được đặt tại Nghĩa trang Mai Dịch)
Khi ông đột ngột từ trần, đồng chí, đồng đội và bạn bè quốc tế khóc thương một vị tướng tài ba, đức độ. Báo Granma của Đảng Cộng sản Cuba đăng trên trang nhất tin buồn và khẳng định: Việt Nam mất một người anh hùng.

(Bộ Tem về Đại tướng Lê Trọng Tấn được phát hành nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông)

(Đoàn đại biểu Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng do Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ làm trưởng đoàn dâng hoa, dâng hương tưởng nhớ Đại tướng Lê Trọng Tấn sáng 30/9/2014)
Nghệ sĩ Nhân dân Tào Mạt đã làm bài thơ khóc thương ông:
Anh Tấn ơi! Ngơ ngác khắp quân doanh
Sáng họp…tối đi…sao vội thế anh?
Đại hội chưa xong anh lên đường
Như xưa kia Bác Hồ điện gấp
Vẫn như ngày nào suốt đời cập rập
“Chơ vơ dưới cửa ba nghìn khách
Lạnh lẽo trong lòng chục vạn binh”
Sáng như trời sang xuân
Tối như mùa đổi tiết…


