Đại tướng Lê Trọng Tấn người chỉ huy tài ba, nhà tham mưu chiến lược quân sự xuất sắc của Quân đội Nhân dân Việt Nam (1)
Mùa Thu năm 1949, sau chiến dịch Sông Thao, đồng chí Lê Trọng Tấn được chỉ định làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 209 (tức Trung đoàn Sông Lô). Sau một thời gian củng cố lực lượng, Trung đoàn 209 đã tham gia và giành thắng lợi vang dội trong chiến dịch Biên Giới. Chiến thắng Biên Giới năm 1950 đã mở ra một thời kỳ mới của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Quân đội ta đứng trước yêu cầu phải khẩn trương tổ chức những đơn vị chủ lực lớn để đánh những đòn tập trung, tiêu diệt lớn, đập tan âm mưu
2. Đại tướng Lê Trọng Tấn người chỉ huy tài ba, nhà tham mưu chiến lược quân sự xuất sắc của Quân đội Nhân dân Việt Nam
Mùa Thu năm 1949, sau chiến dịch Sông Thao, đồng chí Lê Trọng Tấn được chỉ định làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 209 (tức Trung đoàn Sông Lô). Sau một thời gian củng cố lực lượng, Trung đoàn 209 đã tham gia và giành thắng lợi vang dội trong chiến dịch Biên Giới. Chiến thắng Biên Giới năm 1950 đã mở ra một thời kỳ mới của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Quân đội ta đứng trước yêu cầu phải khẩn trương tổ chức những đơn vị chủ lực lớn để đánh những đòn tập trung, tiêu diệt lớn, đập tan âm mưu quân sự mới của Pháp. Vì vậy, Bộ Tổng Tư lệnh đã quyết định thành lập Đại đoàn 312, đồng chí Lê Trọng Tấn được bổ nhiệm quyền Đại đoàn trưởng đại đoàn này.
Sau chiến dịch Hoàng Hoa Thám năm 1951, tại Hội nghị Tổng kết chiến dịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự và Người đã chỉ ra những nguyên nhân chủ quan dẫn đến chiến dịch này không đạt được mục đích đề ra; các đại đoàn đều có khuyết điểm và lần đầu tiên đồng chí Lê Trọng Tấn được Bác phê bình: “Chú Tấn, chú đã biết rửa mặt chưa, mặt có vết nhọ mà không rửa là không sạch, phê bình và tự phê bình là cách rửa mặt. Sau mỗi trận đánh phải biết phê bình và tự phê bình mới mong tiến bộ”[1]. Lời dạy bảo hết sức nghiêm khắc và chân tình của Bác đã trở thành bài học nằm lòng, nhớ mãi đối với đồng chí Lê Trọng Tấn và trở thành phương châm thực hiện của Ông sau mỗi chiến dịch về sau này.
Tiếp sau chiến dịch Hoàng Hoa Thám, mùa Hè năm 1951, đồng chí Lê Trọng Tấn nhận lệnh chỉ huy Đại đoàn 312 mở chiến dịch Lý Thường Kiệt ở Tây Bắc để phối hợp với chiến dịch Hà Nam Ninh. Cuối năm 1951 đầu năm 1952, Đại đoàn 312 tham gia chiến dịch Hòa Bình, với những chiến công xuất sắc ở Thu Cúc, Lai Đồng, Ninh Mít, Ba Vì. Thu Đông 1952, Đại đoàn lại lập công lớn trong chiến dịch Tây Bắc, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng một vùng rộng lớn từ hữu ngạn sông Thao đến tả ngạn và hữu ngạn sông Đà. Những chiến thắng vang dội của Đại đoàn 312 đều in đậm dấu ấn đồng chí Lê Trọng Tấn.
Tháng 12 năm 1952, theo yêu cầu của Chính phủ kháng chiến Lào, với tư cách là Đại đoàn trưởng Đại đoàn 312, đồng chí Lê Trọng Tấn được giao nhiệm vụ đưa Trung đoàn 141 vượt qua Mai Sỏn sang vùng Mường Hét để giúp bạn Lào mở rộng khu căn cứ du kích Mường Khộp.
Mùa hè năm 1953, trong khi đồng chí Lê Trọng Tấn (Đại đoàn trưởng Đại đoàn 312) và đồng chí Cao Văn Khánh (Đại đoàn phó Đại đoàn 308) được giao nhiệm vụ phụ trách Tổ chuyên đề chuẩn bị kế hoạch tiến công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Nà Sản, thì kế hoạch của Nava cũng đang gấp rút triển khai. Điểm then chốt trong kế hoạch của Nava là tập trung binh lực xây dựng bằng được khối cơ động chiến lược mạnh. Kế hoạch chiến lược của ta trong Đông Xuân 1953-1954 là kiên quyết buộc địch phải phân tán, phá vỡ khối cơ động tập trung của địch, điều động từng bộ phận, lực lượng cơ động của địch, phân tán ra các hướng khác nhau, rồi chọn một số hướng thuận lợi để tiêu diệt địch.
Ngày 14 tháng 01 năm 1954, cán bộ chỉ huy các đại đoàn được triệu tập về hang Thẩm Púa để Bộ tổng Tư lệnh chiến dịch phổ biến phương án “đánh nhanh, giải quyết nhanh”. Đại đoàn 312, sau 9 ngày đêm vất vả kéo pháo vào chiếm lĩnh trận địa thì bất ngờ được lệnh của chỉ huy dừng cuộc tiến công và kéo pháo ra, lui quân về vị trí tập kết.
Quân lệnh như sơn. Người chỉ huy luôn tuân thủ kỷ luật sắt của quân đội, khi nhận lệnh “đánh nhanh, giải quyết nhanh”, đồng chí Lê Trọng Tấn nghiêm túc chấp hành, nhưng sự tuân lệnh của Ông không dấu được những lo lắng trước những khó khăn: “Chúng tôi phải liên tục đột phá ba phòng tuyến mới tới phía bên trong được”, câu nói trên khiến Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tư lệnh chiến dịch phải suy nghĩ và nó góp phần không nhỏ vào củng cố quyết tâm của Đại tướng đưa đến quyết định thay đổi phương châm tác chiến chiến dịch từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc” nhằm bảo đảm cho những thắng lợi sau này. Chủ trương “đánh chắc, tiến chắc” của Bộ chỉ huy chiến dịch đã đáp ứng những băn khoăn, trăn trở, phù hợp với những tư tưởng chủ đạo của Đại đoàn trưởng Đại đoàn 312 Lê Trọng Tấn. Cán bộ, chiến sỹ của Đại đoàn 312, luôn nhớ câu nói thường xuyên của Ông trước khi vào trận: “Biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng”[2].
Sau khi đi trinh sát thực địa, lấy lời khai tù hàng binh và nghiên cứu rất kỹ tình hình mọi mặt, Đại đoàn trưởng Lê Trọng Tấn quyết định lên kế hoạch tiến công Him Lam, tập trung vào ba vấn đề then chốt: một là hiệp đồng với pháo, hai là đột phá mở cửa; ba là đánh vào chiều sâu phòng ngự của đối phương. Thực hiện theo phương châm trên, sau 5 giờ 30 phút chiến đấu, Đại đoàn 312 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiêu diệt và làm chủ cụm cứ điểm Him Lam.
15 giờ ngày 7 tháng 5, Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh tổng công kích trước giờ quy định, từ hướng Đông, Đại đoàn trưởng Lê Trọng Tấn ra lệnh cho Trung đoàn 141, tiến công sau đội hình của Trung đoàn 209, thọc sâu vào Mường Thanh. 17 giờ 30, Đờ Cát và bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được dẫn giải tới Sở chỉ huy của đồng chí Lê Trọng Tấn. Sau khi lấy chữ ký và đối chiếu với văn kiện trước đây xem có đúng là Đờ Cát không, sau đó đồng chí Lê Trọng Tấn đã báo cáo với Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, từ khi mở đầu cho đến khi kết thúc chiến dịch, Đại đoàn 312 dưới sự chỉ huy của đồng chí Lê Trọng Tấn là đại đoàn duy nhất không gặp trục trặc trận nào, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, dẫn đầu phong trào thi đua lập công và được nhận cờ thưởng “Quyết chiến, Quyết thắng” của Bác Hồ.
Đồng chí Lê Trọng Tấn được cử vào miền Nam cùng với Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và một số đồng chí khác để củng cố Bộ Tư lệnh Miền, xây dựng lực lượng vũ trang toàn Miền Nam. Thời gian này, Thiếu tướng Lê Trọng Tấn thường được anh em quân giải phóng gọi với cái tên rất Nam Bộ là Ba Long.
Trên cương vị Phó tư lệnh, Thiếu tướng Lê Trọng Tấn đã tích cực tham gia chỉ đạo chiến dịch Bình Giã rồi trực tiếp làm Tư lệnh chiến dịch Đồng Xoài (10-5 đến 22-7-1965). Anh em quân giải phóng khi nhắc đến đồng chí Ba Long đều hết sức khâm phục nghệ thuật tổ chức và điều hành chiến dịch của Ông. Đồng chí Ba Long là người rất hiểu cấp dưới, luôn tạo điều kiện cho họ phát huy sở trường, sử dụng chiến thuật và cách đánh phù hợp để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Thắng lợi của hai chiến dịch Bình Giã, Đồng Xoài cùng với chiến dịch Ba Gia của Quân khu 5 đã đánh gãy xương sống của quân đội Sài Gòn do Mỹ trang bị và làm cố vấn. Thắng lợi ba chiến dịch lớn của bộ đội chủ lực cùng với hoạt động của quân và dân miền Nam đã đánh bại hoàn toàn chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, buộc Mỹ phải đưa quân vào để cứu vãn tình thế.
Thiếu tướng Lê Trọng Tấn báo cáo tình hình với Đại tướng Võ Nguyên Giáp trước khi lên đường vào chiến trường miền Nam năm 1966.
Khi quân Mỹ mở cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966, đồng chí Lê Trọng Tấn được cử làm Tư lệnh chiến dịch Bàu Bàng - Dầu Tiếng (từ ngày 12 đến ngày 27 tháng 11 năm 1965). Ông đã chỉ huy các đơn vị đánh thiệt hại nặng Lữ đoàn 3 (trong đó tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn) của Sư đoàn 1 được mệnh danh là Sư đoàn Anh Cả đỏ. Tiếp đến, cuộc phản công chiến lược mùa khô năm 1966-1967, mà đỉnh cao là cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ty, đồng chí Lê Trọng Tấn lại được giao làm Tư lệnh và dưới sự chỉ huy của Ông, các lực lượng vũ trang của ta đã đánh bại cuộc hành quân lớn đầy tham vọng này của Mỹ.
Khi chiến dịch Đường 9 - Nam Lào diễn ra, đồng chí Lê Trọng Tấn được Tổng Quân ủy cử làm Tư lệnh chiến dịch. Đầu năm 1971, Mỹ và quân đội Sài Gòn mở cuộc hành quân Lam Sơn - 719, tiến công lớn ra Đường 9 - Nam Lào hòng đánh chiếm Sê-phôn, phá tận gốc đường vận chuyển chiến lược Bắc Nam của ta, chia cắt ba nước Đông Dương và thử nghiệm công thức tiêu biểu của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”: bộ binh Việt Nam cộng hòa cộng với hỏa lực, hậu cần Mỹ. Trong chiến dịch này, Thiếu tướng Lê Trọng Tấn đã có 4 quyết định kịp thời, chính xác góp phần quan trọng vào việc giành thắng lợi của chiến dịch:
1. Ông đã phán đoán đúng hướng cần chuẩn bị là hướng Đường 9 - Nam Lào, hướng có khả năng nhiều nhất địch sẽ tiến công.
2. Ông đã cho tăng cường mạnh lực lượng ngay tại chỗ, để đánh địch ngay từ đầu, tạo điều kiện cho các binh đoàn chủ lực cơ động và chủ động tiến công địch ngay khi đến nơi.
3. Vừa đánh mạnh ở Lao Bảo, Bản Đông vừa chuẩn bị đủ lực lượng để giữ vững khu vực địa bàn trong điểm Sê-phôn. Bảo đảm hoàn thành xuất sắc cả hai nhiệm vụ tiêu diệt địch, bảo đảm giữ vững đường vận chuyển và kho tàng.
4. Ông đã cho kết thúc chiến dịch đúng thời cơ, đúng lúc.
Trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972, hướng chủ yếu là Đường 9 - Trị Thiên, đồng chí Lê Trọng Tấn tiếp tục được giao làm Tư lệnh chiến dịch. Đây là chiến dịch hiệp đồng binh chủng lớn nhất từ trước đến nay của ta. Sau 34 ngày đêm chiến đấu, quân và dân ta đã giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị.
Ngày 28 tháng 6, quân đội Việt Nam cộng hòa với sự chi viện của hỏa lực Mỹ, mở cuộc phản công nhằm tái chiếm tỉnh Quảng Trị. Đồng chí Lê Trọng Tấn đã chỉ đạo các lực lượng tại chỗ bám địa bàn và thực hiện các chiến thuật đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn, đánh từng bộ phận tiến tới đánh tiêu diệt các lực lượng sừng sỏ nhất của quân Mỹ và quân Việt Nam cộng hòa trên chiến trường Trị - Thiên - Huế. Đặc biệt, Ông có biệt tài trong chỉ đạo tổ chức các lực lượng săn lùng và tiêu diệt xe tăng Mỹ. Với lực lượng gọn nhẹ bằng lựu đạn chống tăng, B40, B41 và bom mìn ta lấy được của địch để đánh trên các trục giao thông. Khi tối đến địch phải dồn quân, cụm lại, ta tổ chức tập kích, luồn sâu đánh từ trong đánh ra, thực hiện “nở hoa trong lòng địch”.
Ngày 28 tháng Giêng năm 1973, sau khi Hiệp định Pa-ri vừa được ký kết, đồng chí Lê Trọng Tấn, Phó Tổng Tham mưu trưởng được cử vào mặt trận Quảng Trị để chỉ huy đánh quân Việt Nam cộng hòa lấn chiếm Cửa Việt. Lúc này, chỉ huy một số đơn vị tại chỗ đã có biểu hiện chần chừ, Ông đã kịp thời chấn chỉnh và ra lệnh kiên quyết đánh bại, khôi phục tức khắc cảng Cửa Việt, đẩy quân Việt Nam cộng hòa về tuyến cũ.
Từ giữa năm 1973 đến tháng Giêng năm 1975, Trung tướng Lê Trọng Tấn được cử làm Tổ trưởng Tổ trung tâm xây dựng kế hoạch giải phóng miền Nam trong hai năm. Dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Tổ trung tâm do Ông phụ trách đã dự thảo xong kế hoạch giải phóng miền Nam sau tám lần sửa chữa và bổ sung. Tới hội nghị Bộ Chính trị mở rộng gồm các đồng chí lãnh đạo chủ yếu các chiến trường diễn ra từ ngày 8 tháng12 năm 1974 đến ngày 8 tháng Giêng năm 1975, kế hoạch này được bổ sung hoàn chỉnh và chính thức thông qua.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, sau khi chỉ huy giải phóng Đà Nẵng, đồng chí Lê Trọng Tấn được cử làm Tư lệnh cánh quân phía Đông gồm Quân đoàn 2 và Quân đoàn 4 tiến vào giải phóng Sài Gòn. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tổng Tư lệnh, cánh quân này đã thần tốc theo đường ven biển tiến về phía Nam, nhanh chóng phối hợp với các cánh quân khác của đại quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn, cắm cờ giải phóng trên nóc dinh Độc Lập. Thực tiễn thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đã chứng minh: “Cánh quân phía Đông là sáng tạo của Bộ Tổng Tham mưu vì nó không có từ đầu trong kế hoạch giải phóng miền Nam”[3]. Thành công của cánh quân phía Đông có dấu ấn chỉ huy của đồng chí Lê Trọng Tấn.
[1] Đại tướng Lê Trọng Tấn con người của những chiến trường nóng bỏng: Đại tướng Lê Trọng Tấn nhà quân sự lớn, tài giỏi, đức độ; Nxb Văn học; Hà Nội - 2014; Tr 432.
[2] Trích dẫn từ câu nói của Tôn Tử trong Binh pháp Tôn Tử, thiên thứ ba: Mưu công, viết: Biết địch biết ta, trăm trận không bại, biết ta mà không biết địch trận thắng trận bại, không biết địch không biết ta, trận nào cũng bại.
[3] Phát biểu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Hội nghị Tổng kết cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Dẫn theo bài viết: “Mãi mãi nhớ anh Tấn” của Trung tướng Lê Hữu Đức đăng trên Tạp chí Xưa và Nay, số 34, tháng 12 -1976


