Đại tướng Lê Trọng Tấn người thực hiện xuất sắc những ý đồ chiến lược quân sự của Đảng và Bác Hồ
NGƯỜI THỰC HIỆN XUẤT SẮC NHỮNG Ý ĐỒ CHIẾN LƯỢC QUÂN SỰ CỦA ĐẢNG VÀ BÁC HỒ
Đại tướng Lê Trọng Tấn, một vị tướng mà tên tuổi của Ông đã trở nên gần gũi, thân quen với cán bộ, chiến sỹ trong toàn quân. Người ta gọi Ông là “thiên tài quân sự”, là “dũng tướng”, là “tướng trận” bởi Ông luôn có mặt ở những chiến trường gai góc và quyết liệt nhất. Đặc biệt hơn, Đại tướng Lê Trọng Tấn còn là người trực tiếp chỉ huy hai binh đoàn cơ động, hai cánh quân đều từ hướng Đông đánh vào trung tâm đầu não của địch ở Điện Biên Phủ (1954) và dinh Độc Lập (1975), buộc chúng phải đầu hàng vô điều kiện, góp phần quyết định thắng lợi cuối cùng cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.
Đại tướng Lê Trọng Tấn tên thật là Lê Trọng Tố, sinh năm 1914, tại làng quê nghèo Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Đông trong một gia đình nông dân yêu nước. Ông là người có khả năng và tư duy thiên bẩm về chỉ huy đội quân vũ trang, nên ngay từ khi tham gia cách mạng đã được giao làm Ủy viên phụ trách quân sự trong Ủy ban khởi nghĩa tỉnh Hà Đông. Cuộc khởi nghĩa gặp những tình huống bất ngờ và ngoài dự kiến, đồng chí Lê Trọng Tấn đã suy nghĩ và xác định muốn giành thắng lợi trong đấu tranh, nhất là đấu tranh vũ trang thì “…phải hiểu rõ đối tượng tác chiến và phải có kế hoạch chỉ huy thống nhất”. Đây là bài học vỡ lòng về công tác lãnh đạo, chỉ huy của Ông và nó đã có ảnh hưởng quyết định đến phong cách chỉ huy của Đại tướng Lê Trọng Tấn.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp và tướng Lê Trọng Tấn1. Đại tướng Lê Trọng Tấn với công tác xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng
Sau Cách mạng tháng Tám một thời gian ngắn, đồng chí Lê Trọng Tấn được điều đi Tây Bắc phụ trách một chi đội Tây Tiến. Dưới sự chỉ huy của Ông chi đội này sau đó phát triển thành Trung đoàn Sơn La (Trung đoàn 148). Khi mới thành lập đội ngũ cán bộ quân sự còn thiếu trầm trọng, Ông lựa chọn trong lớp cán bộ, chiến sỹ cùng lên Tây Bắc (phần lớn xuất thân từ Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây và một số tỉnh đồng bằng) và một số thanh niên ưu tú người dân tộc, để huấn luyện trở thành những chỉ huy và chiến sỹ nòng cốt trong đơn vị.
Tướng Lê Trọng Tấn và tướng Trần Độ tại rừng miền Đông Nam Bộ trong kháng chiến chống Mỹ.Kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thực hiện chủ trương của Đảng và Bác Hồ về xây dựng Quân đội Nhân dân từng bước tiến lên chính quy, hiện đại; đồng chí Lê Trọng Tấn được cử giữ chức Hiệu trưởng Trường Sỹ quan Lục quân 1. Tại đây, Đồng chí tham gia chỉ đạo và trực tiếp tổng kết kinh nghiệm kháng chiến chống thực dân Pháp, làm tư liệu giảng dạy cho học viên. Từ khi Mỹ còn chưa đánh phá miền Bắc, đồng chí Lê Trọng Tấn đã chỉ đạo nhà trường kết cấu xây dựng chương trình huấn luyện - đào tạo có giả định Mỹ đánh miền Bắc đưa vào giáo trình giảng dạy trong trường, các học viên được thoải mái tự do tranh luận các phương án tác chiến. Khi chỉ đạo công tác huấn luyện cán bộ đưa vào Nam, Đồng chí chú trọng đến sức dẻo dai khi hành quân, khả năng sử dụng chông mìn, bẫy lựu đạn. Đồng chí Lê Trọng Tấn quan niệm phải huấn luyện cho học viên những gì mà chiến trường đòi hỏi.Năm 1964, đồng chí Lê Trọng Tấn được Đảng và Bác Hồ cử vào miền Nam và giữ chức Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam, Ủy viên Quân ủy Miền. Gắn bó với chiến trường miền Nam trong cuộc trường chinh gian khổ chống đế quốc Mỹ xâm lược, đồng chí Lê Trọng Tấn cùng các tướng lĩnh tài ba khác đã tiến hành xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam; đặc biệt là xây dựng, phát triển lực lượng chủ lực Miền thành các trung đoàn, sư đoàn chủ lực có đủ điều kiện độc lập tác chiến hoặc phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương chiến đấu trên từng vùng, địa bàn khác nhau. Từ đó, lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam đã có đủ khả năng mở các chiến dịch, đánh bại các cuộc hành quân càn quét của sư đoàn hoặc nhiều sư đoàn địch được hỏa lực không quân và pháo binh chi viện.Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1968, đồng chí Lê Trọng Tấn được điều động ra Bắc đảm nhiệm chức Tổng Tham mưu phó phụ trách tác chiến. Trong thời gian từ 1968 đến 1975, trên cương vị mới, Ông rất chú trọng đến việc tổ chức nghiên cứu cách đánh phù hợp với từng chiến trường, từng đối tượng khác nhau. Để đáp ứng yêu cầu của từng chiến trường thì công việc tổ chức, xây dựng lực lượng, biên chế, trang bị của các đơn vị; công tác chỉ đạo huấn luyện; tổ chức hiệp đồng binh chủng, quân chủng; tổ chức diễn tập… được Ông đặc biệt chú trọng. Trong quá trình xây dựng các phương án, chuẩn bị lực lượng, đồng chí Lê Trọng Tấn được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cử làm Tư lệnh một số chiến dịch quan trọng như Đường 9 - Nam Lào (1971), Trị - Thiên (1972)... Trong thời gian này, Ông đã có công lớn trong việc xây dựng các binh đoàn chủ lực cơ động của Bộ.
Tướng Lê Trọng Tấn nghiên cứu tình hình chiến trường miền Nam (năm 1965).2. Đại tướng Lê Trọng Tấn người chỉ huy tài ba, nhà tham mưu chiến lược quân sự xuất sắc của Quân đội Nhân dân Việt Nam
Mùa Thu năm 1949, sau chiến dịch Sông Thao, đồng chí Lê Trọng Tấn được chỉ định làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 209 (tức Trung đoàn Sông Lô). Sau một thời gian củng cố lực lượng, Trung đoàn 209 đã tham gia và giành thắng lợi vang dội trong chiến dịch Biên Giới. Chiến thắng Biên Giới năm 1950 đã mở ra một thời kỳ mới của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Quân đội ta đứng trước yêu cầu phải khẩn trương tổ chức những đơn vị chủ lực lớn để đánh những đòn tập trung, tiêu diệt lớn, đập tan âm mưu quân sự mới của Pháp. Vì vậy, Bộ Tổng Tư lệnh đã quyết định thành lập Đại đoàn 312, đồng chí Lê Trọng Tấn được bổ nhiệm quyền Đại đoàn trưởng đại đoàn này.
Thiếu tướng Lê Trọng Tấn báo cáo tình hình với Đại tướng Võ Nguyên Giáp trước khi lên đường vào chiến trường miền Nam năm 1966.Khi quân Mỹ mở cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966, đồng chí Lê Trọng Tấn được cử làm Tư lệnh chiến dịch Bàu Bàng - Dầu Tiếng (từ ngày 12 đến ngày 27 tháng 11 năm 1965). Ông đã chỉ huy các đơn vị đánh thiệt hại nặng Lữ đoàn 3 (trong đó tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn) của Sư đoàn 1 được mệnh danh là Sư đoàn Anh Cả đỏ. Tiếp đến, cuộc phản công chiến lược mùa khô năm 1966-1967, mà đỉnh cao là cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ty, đồng chí Lê Trọng Tấn lại được giao làm Tư lệnh và dưới sự chỉ huy của Ông, các lực lượng vũ trang của ta đã đánh bại cuộc hành quân lớn đầy tham vọng này của Mỹ.Khi chiến dịch Đường 9 - Nam Lào diễn ra, đồng chí Lê Trọng Tấn được Tổng Quân ủy cử làm Tư lệnh chiến dịch. Đầu năm 1971, Mỹ và quân đội Sài Gòn mở cuộc hành quân Lam Sơn - 719, tiến công lớn ra Đường 9 - Nam Lào hòng đánh chiếm Sê-phôn, phá tận gốc đường vận chuyển chiến lược Bắc Nam của ta, chia cắt ba nước Đông Dương và thử nghiệm công thức tiêu biểu của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”: bộ binh Việt Nam cộng hòa cộng với hỏa lực, hậu cần Mỹ. Trong chiến dịch này, Thiếu tướng Lê Trọng Tấn đã có 4 quyết định kịp thời, chính xác góp phần quan trọng vào việc giành thắng lợi của chiến dịch:1. Ông đã phán đoán đúng hướng cần chuẩn bị là hướng Đường 9 - Nam Lào, hướng có khả năng nhiều nhất địch sẽ tiến công.2. Ông đã cho tăng cường mạnh lực lượng ngay tại chỗ, để đánh địch ngay từ đầu, tạo điều kiện cho các binh đoàn chủ lực cơ động và chủ động tiến công địch ngay khi đến nơi.3. Vừa đánh mạnh ở Lao Bảo, Bản Đông vừa chuẩn bị đủ lực lượng để giữ vững khu vực địa bàn trong điểm Sê-phôn. Bảo đảm hoàn thành xuất sắc cả hai nhiệm vụ tiêu diệt địch, bảo đảm giữ vững đường vận chuyển và kho tàng.4. Ông đã cho kết thúc chiến dịch đúng thời cơ, đúng lúc.Trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972, hướng chủ yếu là Đường 9 - Trị Thiên, đồng chí Lê Trọng Tấn tiếp tục được giao làm Tư lệnh chiến dịch. Đây là chiến dịch hiệp đồng binh chủng lớn nhất từ trước đến nay của ta. Sau 34 ngày đêm chiến đấu, quân và dân ta đã giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị.Ngày 28 tháng 6, quân đội Việt Nam cộng hòa với sự chi viện của hỏa lực Mỹ, mở cuộc phản công nhằm tái chiếm tỉnh Quảng Trị. Đồng chí Lê Trọng Tấn đã chỉ đạo các lực lượng tại chỗ bám địa bàn và thực hiện các chiến thuật đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn, đánh từng bộ phận tiến tới đánh tiêu diệt các lực lượng sừng sỏ nhất của quân Mỹ và quân Việt Nam cộng hòa trên chiến trường Trị - Thiên - Huế. Đặc biệt, Ông có biệt tài trong chỉ đạo tổ chức các lực lượng săn lùng và tiêu diệt xe tăng Mỹ. Với lực lượng gọn nhẹ bằng lựu đạn chống tăng, B40, B41 và bom mìn ta lấy được của địch để đánh trên các trục giao thông. Khi tối đến địch phải dồn quân, cụm lại, ta tổ chức tập kích, luồn sâu đánh từ trong đánh ra, thực hiện “nở hoa trong lòng địch”.Ngày 28 tháng Giêng năm 1973, sau khi Hiệp định Pa-ri vừa được ký kết, đồng chí Lê Trọng Tấn, Phó Tổng Tham mưu trưởng được cử vào mặt trận Quảng Trị để chỉ huy đánh quân Việt Nam cộng hòa lấn chiếm Cửa Việt. Lúc này, chỉ huy một số đơn vị tại chỗ đã có biểu hiện chần chừ, Ông đã kịp thời chấn chỉnh và ra lệnh kiên quyết đánh bại, khôi phục tức khắc cảng Cửa Việt, đẩy quân Việt Nam cộng hòa về tuyến cũ.Từ giữa năm 1973 đến tháng Giêng năm 1975, Trung tướng Lê Trọng Tấn được cử làm Tổ trưởng Tổ trung tâm xây dựng kế hoạch giải phóng miền Nam trong hai năm. Dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Tổ trung tâm do Ông phụ trách đã dự thảo xong kế hoạch giải phóng miền Nam sau tám lần sửa chữa và bổ sung. Tới hội nghị Bộ Chính trị mở rộng gồm các đồng chí lãnh đạo chủ yếu các chiến trường diễn ra từ ngày 8 tháng12 năm 1974 đến ngày 8 tháng Giêng năm 1975, kế hoạch này được bổ sung hoàn chỉnh và chính thức thông qua.Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, sau khi chỉ huy giải phóng Đà Nẵng, đồng chí Lê Trọng Tấn được cử làm Tư lệnh cánh quân phía Đông gồm Quân đoàn 2 và Quân đoàn 4 tiến vào giải phóng Sài Gòn. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tổng Tư lệnh, cánh quân này đã thần tốc theo đường ven biển tiến về phía Nam, nhanh chóng phối hợp với các cánh quân khác của đại quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn, cắm cờ giải phóng trên nóc dinh Độc Lập. Thực tiễn thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đã chứng minh: “Cánh quân phía Đông là sáng tạo của Bộ Tổng Tham mưu vì nó không có từ đầu trong kế hoạch giải phóng miền Nam”[3]. Thành công của cánh quân phía Đông có dấu ấn chỉ huy của đồng chí Lê Trọng Tấn.
[1] Đại tướng Lê Trọng Tấn con người của những chiến trường nóng bỏng: Đại tướng Lê Trọng Tấn nhà quân sự lớn, tài giỏi, đức độ; Nxb Văn học; Hà Nội - 2014; Tr 432.
[2] Trích dẫn từ câu nói của Tôn Tử trong Binh pháp Tôn Tử, thiên thứ ba: Mưu công, viết: Biết địch biết ta, trăm trận không bại, biết ta mà không biết địch trận thắng trận bại, không biết địch không biết ta, trận nào cũng bại.
[3] Phát biểu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Hội nghị Tổng kết cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Dẫn theo bài viết: “Mãi mãi nhớ anh Tấn” của Trung tướng Lê Hữu Đức đăng trên Tạp chí Xưa và Nay, số 34, tháng 12 -1976
3. Đại tướng Lê Trọng Tấn với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, đồng chí Lê Trọng Tấn lại tiếp tục “ra trận” nhưng trên một cương vị mới. Ông vừa là Phó Tổng Tham mưu trưởng QĐNDVN, vừa là Viện trưởng Viện Khoa học quân sự kiêm giám đốc Học viện Quân sự cao cấp Bộ Quốc phòng (nay là Học viện Quốc phòng). Ông cho tập trung chất xám, kinh nghiệm chiến trường của tư lệnh các binh đoàn để cùng nhau góp sức xây dựng giáo trình giảng dạy. Với kinh nghiệm tác chiến phong phú đầy sáng tạo, trình độ lý luận cao trên nhiều mặt cả về chính trị và khoa học về quân sự. Với lòng nhiệt huyết và uy tín lớn trong lực lượng vũ trang, nên dưới sự chỉ đạo của Giám đốc Học viện Lê Trọng Tấn, chỉ sau sáu tháng chuẩn bị, lớp bổ túc đầu tiên của Học viện đã được khai giảng và sau một năm đào tạo, lớp học đã đạt kết quả rất tốt. Trong một thời gian ngắn, dưới sự chỉ đạo của Ông, các cơ sở vật chất như hội trường, phòng học, nhà ở đã được hoàn thiện. Đồng chí Lê Trọng Tấn còn trực tiếp soạn giáo trình và lên lớp bài “Tác chiến chiến lược trong chiến tranh tương lai”. Ông là người có công lớn, góp phần đặt nền móng cho việc đào tạo đội ngũ cán bộ chiến dịch, chiến lược của Quân đội ta.
Đại tướng Lê Trọng Tấn (thứ hai từ trái qua) và Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng một số cán bộ trao đổi công việc.Trên cương vị Tổng Tham mưu trưởng QĐNDVN - Thứ trưởng BQP, đồng chí trực tiếp chỉ đạo các cơ quan tham mưu trình Bộ ban hành: Các hệ thống điều lệnh, điều lệ của quân đội…; hệ thống công tác tham mưu, chính trị, hậu cần kỹ thuật v.v… Ông cũng đặc biệt quan tâm đến công tác nghiên cứu khoa học quân sự và công tác nhà trường quân đội. Ông rất coi trọng “nâng cao trình độ tổ chức, chỉ huy chiến đấu hiệp đồng binh chủng, quân chủng trong mọi quy mô, nhất là quy mô vừa và lớn, để đánh trả mạnh mẽ và kịp thời quân xâm lược ngay từ khi chúng xâm lược lãnh thổ Tổ quốc”[2]... Không chỉ quan tâm chỉ đạo xây dựng nâng cao sức chiến đấu của những đơn vị chủ lực, đồng chí Lê Trọng Tấn rất chú trọng đến xây dựng và củng cố lực lượng vũ trang địa phương và công tác xây dựng làng xã chiến đấu, Ông đánh giá cao vai trò, vị trí của cấp huyện trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV và Chỉ thị số 38/CT-TƯ ngày 21 tháng 2 năm 1978 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về xây dựng cấp huyện…; được Thường vụ Quân ủy Trung ương xác định: xây dựng pháo đài cấp huyện là một trọng tâm lớn của công tác quân sự địa phương trong giai đoạn mới. Đồng chí Lê Trọng Tấn đã chỉ đạo Bộ Tổng Tham mưu chuẩn bị nội dung, tập huấn và tổ chức các hội nghị chuyên đề hướng dẫn việc xây dựng pháo đài cấp huyện. Đồng thời, Ông trực tiếp viết tác phẩm: “Xây dựng mỗi huyện thành một pháo đài quân sự”[3] để làm tài liệu nghiên cứu.Đồng chí Đại tướng Lê Trọng Tấn là một nhà chỉ huy xông xáo và sâu sát cơ sở, Ông thường xuyên đi kiểm tra các đơn vị, chỉ đạo công tác huấn luyện, điều chỉnh bổ sung các phương án sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu. Trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn nhưng Ông rất chú trọng và quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sỹ; Ông đã chỉ đạo các cơ quan nghiên cứu bổ sung các chính sách, chế độ cho cán bộ, chiến sỹ đang tại ngũ cũng như các chính sách hậu phương quân đội…Đồng chí Đại tướng Lê Trọng Tấn, nhà quân sự tài năng, cương trực, quyết đoán, một vị tướng suốt đời giữ trọn được đạo làm tướng: “Trí - dũng - nhân - chính - liêm - trung” như lời căn dặn của Bác Hồ. Trong hơn 40 năm hoạt động cách mạng, đồng chí luôn phát huy được đạo đức cách mạng sáng ngời, luôn được cán bộ, chiến sỹ và nhân dân yêu quý. Những cống hiến và công lao của đồng chí Đại tướng Lê Trọng Tấn cho sự nghiệp cách mạng và xây dựng lực lượng vũ trang Nhân dân mà nòng cốt là Quân đội Nhân dân là hết sức to lớn. Đây là những bài học kinh nghiệm hết sức quý giá để chúng ta tiếp tục vận dụng, phát huy trong tình hình mới.
[1] Nghị quyết 228/QUTW ngày 12 tháng 6 năm 1978.
[2] Nâng cao trình độ tổ chức chỉ huy của cán bộ chỉ huy và cơ quan chỉ huy các binh
đoàn - Bài viết đăng trên Tạp chí QĐND số tháng 8-1980.
[3] Tác phẩm đã được Nhà xuất bản QĐND in năm 1980.


