Cựu chiến binh

Đại tướng Lê Trọng Tấn – Vị tướng của những chiến dịch quyết chiến chiến lược

Thanh Hóa16/09/2026Đoàn xã Hưng Vũ (Xã Hưng Vũ)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong lịch sử quân sự hiện đại Việt Nam, bên cạnh Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, có một vị tướng tài ba xuất chúng, người luôn được tin tưởng giao phó vị trí chỉ huy ở những cánh quân tiên phong, những mũi đột kích quan trọng nhất trong các chiến dịch mang tính quyết định vận mệnh giang sơn. Ông là Đại tướng Lê Trọng Tấn – nguyên Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Bằng tư duy quân sự sắc bén, tài bài binh bố trận thiên tài và tính cách quyết đoán, ông được các học giả quân sự quốc tế và đồng chí kính trọng ví như "Zhukov của Việt Nam" – vị tướng chuyên trị những trận đánh lớn, người luôn xuất hiện ở đâu là ở đó có chiến thắng lẫy lừng.

Đại tướng Lê Trọng Tấn tên thật là Lê Trọng Tố, sinh năm 1914 tại làng Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây (nay thuộc thủ đô Hà Nội). Sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo, ông sớm bộc lộ tư chất thông minh, yêu thích võ thuật và có năng khiếu thể thao vượt trội (từng là cầu thủ bóng đá lừng danh của đội bóng Không quân Pháp). Ban đầu, ông bị bắt lính vào quân đội thực dân Pháp. Tuy nhiên, với lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần tự tôn dân tộc, ông đã sớm nhận ra bản chất tàn bạo của đế quốc và bí mật bắt liên lạc với Việt Minh, dấn thân vào con đường cách mạng năm 1944.

Trong cuộc Khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, với sự am hiểu về tổ chức quân sự, Lê Trọng Tấn đã chỉ huy lực lượng tự vệ đánh chiếm các căn cứ của địch ở Hà Đông, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của thủ đô.

Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tài năng quân sự của Lê Trọng Tấn bắt đầu nở rộ khi ông được bổ nhiệm làm Đại đoàn trưởng đầu tiên của Đại đoàn 312 (một trong những đại đoàn chủ lực, tinh nhuệ nhất của quân đội ta bấy giờ). Dưới sự chỉ huy của ông, Đại đoàn 312 đã lập nên những chiến công vang dội trong chiến dịch Biên giới 1950, chiến dịch Trung Du.

Đỉnh cao vinh quang của ông trong cuộc chiến chống Pháp chính là Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Đại đoàn 312 của Lê Trọng Tấn được giao nhiệm vụ đánh trận mở màn vào cứ điểm Him Lam – trung tâm phòng ngự kiên cố nhất của Pháp. Chỉ trong vài giờ chiến đấu anh dũng, quân của ông đã san phẳng cứ điểm này, mở toang cánh cửa tiến vào lòng chảo Điện Biên. Suốt 56 ngày đêm khoét núi ngủ hầm, đến ngày lịch sử 7 tháng 5 năm 1954, chính các chiến sĩ thuộc Đại đoàn 312 của Lê Trọng Tấn đã dũng cảm mưu trí đánh thẳng vào vương phủ bộ chỉ huy địch, bắt sống tướng De Castries cùng toàn bộ ban tham mưu tập đoàn cứ điểm, đặt dấu chấm hết vĩnh viễn cho thực dân Pháp tại Đông Dương.

Sau khi đất nước bị chia cắt, bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại, Lê Trọng Tấn tiếp tục được Đảng và Bộ Tổng tư lệnh chọn mặt gửi vàng, cử vào chiến trường miền Nam với bí danh Ba Long. Ông giữ chức Phó Tổng tư lệnh Quân giải phóng miền Nam.

Đại tướng Lê Trọng Tấn là người có tư duy chiến thuật vô cùng độc đáo. Ông luôn yêu cầu quân sĩ phải "tìm cách đánh mới, chủ động ép địch vào thế bị động". Ông chính là tư lệnh chỉ huy các chiến dịch lớn làm thay đổi cục diện chiến trường như chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971), đập tan cuộc hành quân Lam Sơn 719 của Mỹ - Ngụy; chiến dịch giải phóng Trị - Thiên (1972).

Đặc biệt, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, dấu ấn thiên tài của Lê Trọng Tấn in đậm trong hai chiến dịch quyết định lịch sử. Tháng 3 năm 1975, ông là Tư lệnh Chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng. Bằng sự quyết đoán thần tốc, ông chỉ huy quân sĩ đập tan lá chắn phòng ngự mạnh nhất của địch ở miền Trung chỉ trong vòng 3 ngày, làm tan rã hoàn toàn hơn 10 vạn quân ngụy cố thủ tại đây.

Ngay sau chiến thắng Đà Nẵng, không một ngày nghỉ ngơi, hành quân xuyên đêm, Lê Trọng Tấn tiếp tục được bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh, kiêm Tư lệnh cánh quân phía Đông. Đây là cánh quân nằm cách xa mục tiêu Sài Gòn nhất nhưng lại phải đối mặt với tuyến phòng thủ từ xa kiên cố nhất của địch tại Xuân Lộc. Nhận được mật lệnh "Thần tốc" của Bộ Tổng tư lệnh, Lê Trọng Tấn đã đưa ra một quyết định táo bạo: xin đại bản doanh cho cánh quân phía Đông nổ súng trước giờ G của toàn chiến dịch một ngày (vào ngày 26 tháng 4) để kịp thời phối hợp hội quân.

Quyết định thiên tài ấy đã giúp cánh quân phía Đông gồm Quân đoàn 2 và Quân đoàn 4 thần tốc đập tan "cánh cửa thép" Xuân Lộc, đập tan tuyến phòng ngự Biên Hòa. Sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, các chiến xe tăng thuộc Lữ đoàn 203, Quân đoàn 2 dưới quyền chỉ huy của ông đã húc đổ cánh cổng sắt Dinh Độc Lập, cắm lá cờ chiến thắng lên nóc vương phủ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu non sông về một mối.

Sau ngày đại thắng, ông tiếp tục có nhiều đóng góp vĩ đại trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc và biên giới Tây Nam, giữ chức Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam và được phong quân hàm Đại tướng năm 1984.

Đại tướng Lê Trọng Tấn trút hơi thở cuối cùng vào năm 1986, hưởng thọ 72 tuổi. Sự ra đi của ông là một tổn thất vô cùng lớn lao cho đất nước. Sinh thời, Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn dành cho ông những lời trân trọng nhất, coi ông là "một trong những vị tướng chỉ huy kiệt xuất nhất, người chiến sĩ tài năng và đức độ của quân đội ta". Người dân và chiến sĩ cả nước luôn nhớ về ông với lòng kính trọng vô hạn – một vị tướng huyền thoại của những chiến thắng thần tốc, người đã hiến dâng trọn vẹn cuộc đời cho sự tự do và vẹn toàn của tổ quốc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn