Khác

ĐẠI TƯỚNG LÊ TRỌNG TẤN: VỊ TƯỚNG CỦA NHỮNG TRẬN QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC VÀ CUỘC ĐỜI THANH BẠCH GIỮA THỜI HOA LỬA

Hà Nội30/10/2026Trung Hải (Đoàn phường An Khê)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
ĐẠI TƯỚNG LÊ TRỌNG TẤN: VỊ TƯỚNG CỦA NHỮNG TRẬN QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC VÀ CUỘC ĐỜI THANH BẠCH GIỮA THỜI HOA LỬA

Trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tướng Lê Trọng Tấn được ngợi ca là “Vị tướng của những chiến dịch lớn”, người đứng đầu trong bộ tứ danh tướng lừng lẫy “Nhất Tấn, nhì An, tam Đan, tứ Chơn”. Cuộc đời binh nghiệp của ông gắn liền với những bước ngoặt vĩ đại nhất của dân tộc trong thế kỷ XX, với một sự trùng hợp kỳ diệu của lịch sử: Ông chính là người trực tiếp chỉ huy các đơn vị bắt sống tướng De Castries tại Điện Biên Phủ năm 1954 và bắt sống Tổng thống Dương Văn Minh tại Dinh Độc Lập năm 1975.

Từ chàng trai trường Bưởi đến vị Đại đoàn trưởng đầu tiên

Đại tướng Lê Trọng Tấn tên thật là Lê Trọng Tố, sinh ngày 01/10/1914 tại làng Nghĩa Lộ, xã Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc phường Yên Nghĩa, quận Hà Đông, Hà Nội) trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước. Thời niên thiếu, ông nổi tiếng là học sinh thông minh, giỏi võ thuật và là cầu thủ bóng đá xuất sắc của trường Bưởi.

Sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng, tháng 3/1944, ông tham gia Mặt trận Việt Minh, đổi tên thành Lê Trọng Tấn và trực tiếp chỉ huy lực lượng khởi nghĩa giành chính quyền tại Hà Đông trong Cách mạng tháng Tám năm 1945. Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tài năng quân sự của ông nhanh chóng tỏa sáng. Tháng 12/1950, khi Đại đoàn 312 (Đại đoàn Chiến Thắng) được thành lập, ông được tin tưởng giao trọng trách Đại đoàn trưởng đầu tiên.

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, Đại đoàn 312 dưới sự chỉ huy của ông được giao nhiệm vụ đánh trận mở màn vào trung tâm đề kháng Him Lam ngày 13/3/1954. Chiến thắng giòn giã tại Him Lam đã đập tan sự kiêu ngạo của thực dân Pháp, mở toang cánh cửa tiến vào tập đoàn cứ điểm. Sau 56 ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, chiều ngày 07/5/1954, chính các chiến sĩ Đại đoàn 312 của Đại đoàn trưởng Lê Trọng Tấn đã đánh thốc vào sở chỉ huy địch, bắt sống tướng De Castries cùng toàn bộ Bộ tham mưu quân Pháp, chấm dứt ách đô hộ của thực dân Pháp trên đất nước ta.

Quyết đoán thần tốc trong đại thắng mùa Xuân năm 1975

Khi đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh ở miền Nam, năm 1964, tướng Lê Trọng Tấn bí mật vào Nam với bí danh Ba Long, giữ chức Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Từ chiến thắng Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào (1971) hay Chiến dịch Trị Thiên (1972), ở đâu có mặt trận cam go nhất, ở đó có dấu chân của vị tướng tài ba Lê Trọng Tấn.

Mùa Xuân năm 1975, bản lĩnh và nhãn quan chiến lược sắc bén của ông một lần nữa làm nên lịch sử. Cuối tháng 3/1975, sau khi giải phóng Huế, trước nguy cơ địch co cụm tại căn cứ liên hợp quân sự Đà Nẵng, Bộ Chính trị hỏi cần bao nhiêu thời gian chuẩn bị. Bỏ qua kế hoạch tác chiến thông thường phải mất một tháng, Tư lệnh Lê Trọng Tấn quyết đoán chớp thời cơ, chỉ huy các cánh quân tiến công thần tốc và giải phóng hoàn toàn thành phố Đà Nẵng chỉ trong vòng 32 giờ đồng hồ (từ ngày 28 đến 29/3/1975).

Ngay sau đó, ông được cử làm Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh kiêm Tư lệnh Cánh quân Duyên Hải (Cánh quân phía Đông). Dưới sự chỉ huy của ông, Cánh quân phía Đông đã đập tan “lá chắn thép” Phan Rang và Xuân Lộc, mở toang cánh cửa phía Đông Sài Gòn. Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, lực lượng thọc sâu của Quân đoàn 2 thuộc Cánh quân phía Đông do ông chỉ huy đã húc đổ cổng Dinh Độc Lập, bắt sống toàn bộ nội các Sài Gòn, buộc Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng không điều kiện. 21 năm sau Điện Biên Phủ, vị tướng ấy lại một lần nữa góp công đầu khép lại cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại.

“Vị Đại tướng không có nhà riêng”

Không chỉ là bậc thầy về nghệ thuật tác chiến hiệp đồng binh chủng và là người thầy đào tạo hàng vạn sĩ quan ưu tú, Đại tướng Lê Trọng Tấn còn là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng. Dù giữ cương vị Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, cho đến tận lúc qua đời vào ngày 05/12/1986, ông vẫn sống trong căn nhà công vụ giản dị tại số 36 Lý Nam Đế (Hà Nội) và không hề sở hữu một mét vuông đất riêng nào.

Hình ảnh vị Đại tướng tài đức vẹn toàn, cả đời xông pha nơi mũi tên hòn đạn vì độc lập, tự do của Tổ quốc nhưng lại sống thanh bạch, trọn vẹn nghĩa tình với đồng chí, đồng đội mãi mãi là “câu chuyện thời hoa lửa” truyền cảm hứng bất tận cho thế hệ trẻ hôm nay.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn