Đại tướng Nguyễn Chí Thanh – bản lĩnh chính trị lớn, tư duy thực tiễn sắc sảo của người cộng sản mẫu mực
Với bản lĩnh kiên cường, trí tuệ mẫn tiệp và nhãn quan chính trị sắc sảo, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã dành trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, cho công cuộc xây dựng quân đội vững mạnh, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là minh chứng sinh động cho hình ảnh người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một chiến sĩ cộng sản kiên trung, mẫu mực, suốt đời chiến đấu vì độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội và hạnh phúc của nhân dân.
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, tên khai sinh là Nguyễn Vịnh, sinh ngày 1/1/1914 trong một gia đình nông dân tại thôn Niêm Phò, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên (nay là Thừa Thiên – Huế). Ngay từ khi còn rất trẻ, ông đã sớm bộc lộ tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường, khả năng tổ chức và vận động quần chúng. Mới 17 tuổi, người thanh niên Nguyễn Vịnh đã tham gia các phong trào đấu tranh chống cường hào, tham gia cao trào dân sinh, dân chủ, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1937 và trở thành Bí thư chi bộ cộng sản đầu tiên ở địa phương.
Năm 1938, khi mới 24 tuổi, ông được cử làm Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên. Trên cương vị người lãnh đạo cao nhất của phong trào cách mạng tại địa phương, Nguyễn Chí Thanh đã khơi dậy tinh thần đấu tranh quật cường của quần chúng, góp phần xây dựng phong trào cách mạng ngày càng phát triển mạnh mẽ. Từ năm 1939 đến năm 1945, ông ba lần bị thực dân bắt giam tại nhà lao Thừa Phủ, Lao Bảo và Buôn Ma Thuột. Trong chốn lao tù khắc nghiệt, ông vẫn giữ vững khí tiết người cộng sản, tổ chức đấu tranh, xây dựng lực lượng nòng cốt, biến nhà tù thành trường học cách mạng.
Thoát khỏi lao tù, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tiếp tục bám sát thực tiễn, vận dụng sáng tạo đường lối của Đảng, trực tiếp lãnh đạo chuẩn bị và tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền, góp phần quan trọng vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, ông liên tục được Đảng và Quân đội giao phó những trọng trách đặc biệt quan trọng, luôn có mặt ở những nơi gian khổ, ác liệt nhất, không quản hy sinh, gian khổ vì sự nghiệp chung.
Năm 1950, nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng bước vào giai đoạn mới, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được giao làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Phó Bí thư Tổng Quân ủy. Trên cương vị này, ông đã góp phần tạo nên bước chuyển căn bản về chất trong công tác Đảng, công tác chính trị, xác lập vị trí “linh hồn, mạch sống” của quân đội. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (năm 1951), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị; năm 1959, được phong quân hàm Đại tướng.
Điểm nổi bật xuyên suốt trong tư duy và phong cách lãnh đạo của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là luôn xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn để đánh giá đúng tình hình và đưa ra những quyết sách sáng tạo, hiệu quả. Là học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông quán triệt sâu sắc tư tưởng “chính trị là gốc”, kiên định nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội. Đại tướng nhiều lần nhấn mạnh: Quân đội ta là quân đội của Đảng; kiên quyết đấu tranh chống mọi quan điểm phi chính trị hóa quân đội, làm suy giảm vai trò lãnh đạo của Đảng trong quân đội.
Từ thực tiễn chỉ đạo, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã hệ thống hóa và đề ra những nguyên tắc cơ bản về công tác Đảng, công tác chính trị trong quân đội, trong đó đặc biệt coi trọng công tác tư tưởng, tổ chức và đường lối quần chúng. Ông cho rằng, càng trong hoàn cảnh khó khăn, ác liệt, công tác chính trị càng phải đi sâu vào đời sống chiến đấu của bộ đội, phải gần dân, sát dân, phát huy sức mạnh to lớn của chiến tranh nhân dân.
Cuối năm 1964, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được Trung ương điều vào miền Nam, giữ chức Bí thư Trung ương Cục miền Nam, Chính ủy Quân giải phóng miền Nam. Trong bối cảnh chiến trường miền Nam bước vào giai đoạn quyết liệt, ông đã vận dụng tư duy chiến lược sắc sảo, phân tích đúng tương quan lực lượng, khẳng định quyết tâm “không sợ Mỹ, dám đánh Mỹ và quyết thắng Mỹ”. Những chỉ đạo của ông đã góp phần củng cố niềm tin, ý chí chiến đấu của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Song song với đó, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội vững mạnh toàn diện, coi đây là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Ông yêu cầu cán bộ phải được rèn luyện cả về đạo đức cách mạng, bản lĩnh chính trị, năng lực tổ chức và phong cách quần chúng; kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, giữa giáo dục thuyết phục và kỷ luật nghiêm minh. Trên cương vị Giám đốc đầu tiên của Trường Chính trị trung, cao cấp của quân đội (nay là Học viện Chính trị), ông đã đặt nền móng quan trọng cho công tác đào tạo cán bộ chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
Ngày 6/7/1967, trong lúc chuẩn bị trở lại chiến trường miền Nam, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đột ngột qua đời sau một cơn đau tim nặng. Sự ra đi của ông là một mất mát lớn đối với Đảng, Quân đội và nhân dân ta. Tuy nhiên, cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi, phong phú cùng những cống hiến to lớn về lý luận và thực tiễn của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã để lại một di sản tinh thần vô cùng quý báu.
Đảng và Nhà nước đã trao tặng, truy tặng ông Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh cùng nhiều phần thưởng cao quý khác. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng ví ông như “đại bàng bay cao, nhìn xa”, là người “thật thà, gan góc và kiên quyết”. Những đánh giá đó không chỉ là sự ghi nhận công lao, mà còn là sự khẳng định về tầm vóc một nhà lãnh đạo lớn, một vị tướng tài đức vẹn toàn, tấm gương sáng để các thế hệ cán bộ, đảng viên và chiến sĩ hôm nay noi theo.
Nguồn : qdnd.vn



