ĐẠI TƯỚNG NGUYỄN CHÍ THANH ĐƯỢC BÁC HỒ ĐẶT TÊN (1)
ĐẠI TƯỚNG NGUYỄN CHÍ THANH ĐƯỢC BÁC HỒ ĐẶT TÊN
***
Năm 1945, Nguyễn Vịnh (tên thật của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh) vinh dự được ra Việt Bắc làm đại biểu dự Hội nghị toàn quốc của Đảng và Quốc dân Đại hội Tân Trào (14 - 16.8.1945). Ông được tham gia vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, chuẩn bị Tổng khởi nghĩa.
Nguyễn Vịnh lúc ấy vừa tròn 31 tuổi, đứng cạnh ông Phạm Văn Đồng, nghe thấy đọc tên Nguyễn Chí Thành, bèn hỏi: “Nguyễn Chí Thành là ai đấy anh?”. Ông Phạm Văn Đồng trả lời: “Là anh đấy. Chính Bác đã đặt cho anh cái tên mới để giữ bí mật và cũng có nhiều ý nghĩa”.
Nghe thấy thế, Nguyễn Vịnh báo cáo với ông Lê Đức Thọ và thưa với Bác, trong họ nhà mình có người tên Thành, theo phong tục Huế, kiêng lấy tên người tuổi lớn đặt cho người nhỏ tuổi hơn, Nguyễn Vịnh sợ “phạm húy”. Vả lại, trong số cán bộ ở Thừa Thiên Huế lúc đó cũng có người tên là Thành (Nguyễn Kim Thành - Tố Hữu) nên Nguyễn Vịnh xin Bác Hồ đặt lại tên cho ông là Thanh. Và cái tên Nguyễn Chí Thanh bắt đầu có từ đó.
“Giá mà giờ phút hoà bình là giờ phút phục sinh những người đã chết trận nhỉ…”
Lời ước ao vang lên trong "Nỗi buồn chiến tranh" của Bảo Ninh, như một cánh cửa mở ra miền mơ tưởng. Ta hãy nhắm mắt lại và thử hình dung…
Nếu giờ phút hòa bình thực sự có thể đánh thức những linh hồn đã nằm xuống, thì cánh rừng xưa sẽ bừng lên tiếng gọi, bước chân rầm rập từ lòng đất vọng về. Những người lính gầy gò trong bộ quân phục bạc màu sẽ lại đứng dậy, đôi mắt trong veo, nụ cười sáng rỡ. Họ sẽ giũ sạch bùn đất, rũ bỏ vết thương, rạng ngời như chưa từng đi qua bom đạn. Cả đoàn quân trở về, đông đủ, chẳng ai còn vắng mặt.
Hãy hình dung cảnh quê hương vỡ òa: mẹ già mừng mừng tủi tủi ôm lấy con trai tưởng đã mất, người vợ trẻ òa khóc trong vòng tay chồng, những đứa con thơ sung sướng gọi “ba ơi” trong tiếng cười rộn rã. Khói lam chiều bay lên từ mái bếp, giữa khoảng sân lành lặn, những người lính vừa trở về sẽ ngồi quây quần, nhấp chén trà quê hương, kể lại giấc mơ dài họ vừa đi qua. Nỗi đau hóa thành hạnh phúc, sự mất mát hóa thành sum vầy.
Ước mơ ấy biết là không thật, nhưng sao vẫn cháy sáng trong lòng ta. Bởi trong ước mơ có sự thương yêu vô hạn, có khát vọng làm dịu đi những khoảng trống. Nó làm ta hiểu sâu hơn cái giá của hòa bình: hòa bình không thể đánh đổi được sự phục sinh, chỉ có thể nâng niu những ký ức và sống tiếp phần đời cho những người đã khuất.
Giá mà… giá mà có thể một lần thôi, nhìn thấy những người lính trở về, để nỗi đau năm tháng hoá thành niềm đoàn viên. Nhưng hiện thực thì không. Và cũng chính vì thế, ta càng phải sống trọn vẹn hôm nay như một cách để “phục sinh” họ trong từng nhịp tim, từng công trình, nhà máy, xí nghiệp, đồng lúa, từng tiếng cười trên mảnh đất đã được trả lại cho hòa bình.



