ĐẠI TƯỚNG NGUYỄN CHÍ THANH: NHÀ CHÍNH TRỊ, QUÂN SỰ KIỆT XUẤT VÀ "ĐẠI TƯỚNG CỦA NÔNG DÂN"

1. Xuất thân yêu nước và tôi luyện trong bão táp cách mạng
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (tên khai sinh là Nguyễn Vịnh) sinh ra trong một gia đình bần nông tại thôn Niêm Phò, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nuôi dưỡng lòng yêu nước và tinh thần chống bất công từ thời tuổi trẻ, ông đã sớm đứng lên cùng thanh niên trong làng đấu tranh chống bọn cường hào và hăng hái tham gia Phong trào Bình dân.
Tuổi trẻ oanh liệt: Ở tuổi 23, ông vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và được cử làm Bí thư Chi bộ tại địa phương.
Bản lĩnh trong lao tù: Trải qua nhiều nhà tù khắc nghiệt của thực dân Pháp tại Huế, Lao Bảo, Buôn Ma Thuột, ông vẫn giữ vững khí tiết và vượt ngục thành công.
Gánh vác trọng trách: Từ cao trào "Kháng Nhật cứu nước" đến Cách mạng Tháng Tám 1945, ông hoạt động lăn lộn tại miền Nam Trung Bộ, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và đảm nhiệm cương vị Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ.
2. Ngọn cờ Binh-Trị-Thiên: "Bám dân, bám cơ sở"
Sau khi Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, trên cương vị Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên, ông cùng tập thể lãnh đạo quán triệt điện khẩn của Thường vụ Trung ương về nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu. Bước vào chiến sự tại Huế, trước sự chênh lệch quá lớn về lực lượng và vũ khí (Pháp có khoảng 1.000 quân trang bị đầy đủ), quân ta kiên cường bám trụ 50 ngày đêm trước khi phải rút khỏi thành phố vào ngày 6-2-1947.
Trực diện trước khó khăn chồng chất, tại Hội nghị Tỉnh ủy mở rộng ở thôn Nam Dương (huyện Quảng Điền), đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã đưa ra tuyên bố mang tính định hướng chiến lược:
"Mất đất chưa phải là mất nước, chúng ta phải tranh thủ từng người, từng thôn. Chúng ta không thể để mất dân, chết cũng không rời cơ sở. Chúng ta nhất định thắng lợi."
Hội nghị Nam Dương đã thổi một luồng sinh khí hoàn toàn mới vào toàn thể cán bộ, đảng viên, trở thành ánh sáng soi đường giúp quân dân Thừa Thiên Huế khôi phục phong trào, kiên cường bám trụ và đẩy mạnh cuộc kháng chiến.
3. "Đại tướng nông dân" và làn gió mới Đại Phong
Sau Đại hội Đảng lần thứ III (1960), xác định mặt trận nông nghiệp đóng vai trò chiến lược cốt lõi cho cả công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc lẫn hậu phương cho miền Nam, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã điều động Đại tướng Nguyễn Chí Thanh làm Trưởng ban Công tác Nông thôn Trung ương.
Sâu sát thực tiễn: Ông trực tiếp đến hàng loạt địa phương (Quảng Bình, Vĩnh Linh, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hải Phòng, Sơn La, Yên Bái, Hà Tây, Nam Hà, Hưng Yên...), ở lại cả tháng trời cùng các hợp tác xã để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của bà con nông dân.
Mô hình Hợp tác xã Đại Phong: Chọn Hợp tác xã Đại Phong (xã Phong Thủy, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình) làm điểm chỉ đạo rút kinh nghiệm cho cả nước, ông cùng ăn, cùng ở, cùng suy nghĩ với nhân dân. Ông đề xướng tư tưởng "phải phá xiềng 3 sào", khuyến khích khai phá đất rừng, phát triển chăn nuôi để có của ăn của để.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Kết quả vượt bậc: Chỉ trong 2 năm, Đại Phong thay đổi toàn diện. Năm 1961, thu nhập bình quân xã viên đạt 904 kg thóc, diện tích canh tác nâng lên 9 sào/người. Tháng 5-1962, HTX Đại Phong được tôn vinh là Đơn vị Anh hùng.
Tình cảm gắn bó máu thịt ấy đã khiến bà con coi ông như vị Thành Hoàng làng. Bác Hồ trìu mến gọi ông là "Đại tướng nông dân", còn nhân dân tôn vinh ông là "Đại tướng của nông dân".
4. Kiến trúc sư công tác Đảng trong Quân đội và Chiến trường miền Nam
Xây dựng rường cột Quân đội (1950 – 1960)
Trên cương vị Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Bộ Tổng Tư lệnh, Phó Bí thư Tổng Chính ủy, ông đặc biệt chú trọng xây dựng công tác Đảng, công tác chính trị — xem đây là "linh hồn", "mạch sống" của quân đội. Ông kiên định nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện; vừa chăm lo xây dựng bản chất cách mạng cho lực lượng vũ trang, vừa chú trọng bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, siết chặt kỷ luật, chống chủ nghĩa cá nhân. Những đóng góp của ông đã tạo nền tảng sức mạnh tinh thần to lớn, góp phần làm nên Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.
Tư tưởng tác chiến tại Chiến trường miền Nam (1964 – 1967)
Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn quyết liệt, ông được cử vào Nam giữ chức Bí thư Trung ương Cục kiêm Chính ủy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam.
Trước bước chuyển từ "Chiến tranh đặc biệt" sang "Chiến tranh cục bộ" của Mỹ, ông cùng Trung ương Cục chỉ đạo phát triển chiến tranh nhân dân, xây dựng bộ đội chủ lực và đúc kết những tư tưởng chỉ đạo tác chiến kinh điển:
"Nắm thắt lưng Mỹ mà đánh"
"Cứ đánh Mỹ khắc tìm ra cách đánh hay"
Khai sinh các "Vành đai diệt Mỹ"
Những phân tích, nhận định sắc bén của ông từ thực địa đã giúp Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đánh giá đúng thất bại của địch, tạo đà cho những thắng lợi chiến lược của cách mạng miền Nam.
5. Trọn đời cống hiến và di sản để lại
Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ đang ở giai đoạn cam go và quyết liệt nhất, ngày 6-7-1967, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh trút hơi thở cuối cùng sau một cơn đau tim nặng (hồi 9 giờ sáng), hưởng thọ 53 tuổi với hơn 30 năm cống hiến trọn vẹn cho Tổ quốc.
Đánh giá về ông, Điếu văn của Đảng khẳng định:
"Đồng chí đã đóng góp nhiều vào việc phát triển nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân của Đảng ta, động viên mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của quân và dân ta, góp phần đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến những thắng lợi to lớn."
Tên tuổi và sự nghiệp của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh mãi mãi là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, tinh thần chống chủ nghĩa cá nhân, tác phong sâu sát thực tiễn và tư duy quân sự - chính trị xuất sắc. Ông đã được Đảng và Nhà nước truy tặng, trao tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất.



