Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - nhà lãnh đạo tài ba (1)
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người chiến sĩ cộng sản kiên trung, mẫu mực, một vị tướng tài trí, mưu lược, suốt đời chiến đấu vì lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Trong hơn 30 năm hoạt động cách mạng, được Đảng, Quân đội giao nhiều nhiệm vụ quan trọng trên nhiều cương vị trọng yếu, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh luôn có mặt ở những nơi gian khổ, ác liệt nhất, luôn đem hết tinh thần trách nhiệm, nghị lực và trí tuệ, cốn
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tên khai sinh là Nguyễn Vịnh, sinh ngày 1/1/1914 trong một gia đình nông dân tại thôn Niêm Phò, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên (nay là Thừa Thiên Huế).
Cuộc đời hoạt động phong phú và sinh động của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã có nhiều cống hiến to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Điểm nổi bật ở Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là ông luôn sát sao với thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn để đánh giá “đúng” và “trúng” tình hình; trên cơ sở đó đưa ra những quyết định đúng đắn, sáng tạo để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng.
Đồng chí Nguyễn Chí Thanh sớm bộc lộ tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường, khả năng tập hợp quần chúng và lãnh đạo cách mạng. Khi còn là một thanh niên ở tuổi 17, người thanh niên Nguyễn Vịnh đã tham gia đấu tranh chống lại bọn cường hào ở địa phương và sau đó tham gia phong trào đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ những năm 1936-1939, được kết nạp và trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1937; trở thành Bí thư chi bộ cộng sản đầu tiên ở địa phương. Năm 1938, mới tròn 24 tuổi đồng chí đã được cử làm Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên. Là người lãnh đạo cách mạng cao nhất trên quê hương Thừa Thiên, đồng chí đã dẫn dắt và khơi dậy ý chí cách mạng quật cường của đồng bào, đồng chí, tạo nên sự lớn mạnh của phong trào cách mạng trong tỉnh.
Từ năm 1939 đến năm 1945, đồng chí ba lần bị địch bắt, giam ở nhà lao Thừa Phủ, rồi Lao Bảo và Buôn Ma Thuột. Trong lao tù đế quốc, đồng chí luôn thể hiện tinh thần bất khuất, kiên cường, giữ vững khí tiết của người cộng sản. Trong thời gian tù đày, dù bị tra tấn bằng nhiều cực hình dã man nhưng đồng chí luôn kiên cường, thể hiện tinh thần bất khuất, gan dạ, giữ vững khí tiết của một người cộng sản. Đồng chí cùng các đảng viên cộng sản biến tòa án Nam triều thành diễn đàn tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản và lên án tội ác của thực dân Pháp và bọn tay sai phản động. Đồng chí thể hiện là một chiến sĩ cộng sản kiên trung, một nhà lãnh đạo mẫu mực trong việc tổ chức đấu tranh chống khủng bố, chống tra tấn, chống đánh đập tù nhân, cải thiện đời sống nhà tù, đồng thời, hết sức quan tâm đến công tác giáo dục lý luận chính trị cho các đảng viên trong chi bộ và những người tù chính trị. Ở nhà tù Lao Bảo, Đồng chí lập ra “Tổ chức bí mật” nhằm tập hợp lực lượng, thống nhất hành động, thúc đẩy phong trào cách mạng, bắt liên lạc với tổ chức đảng từ bên ngoài. Tại nhà đày Buôn Ma Thuột, đồng chí tham gia “Lực lượng trung kiên”, một tổ chức bí mật trong tù đóng vai trò như một chi bộ cộng sản và tiếp tục đấu tranh quyết liệt, ngoan cường.
Thoát khỏi lao tù, đồng chí tích cực cùng các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy Thừa Thiên bám sát thực tiễn, vận dụng sáng tạo đường lối, chủ trương của Đảng, lãnh đạo phong trào đấu tranh, chuẩn bị tiềm lực và tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi, góp phần quan trọng vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 trên cả nước.
* Nhà lãnh đạo tài năng, người chỉ đạo thực tiễn xuất sắc
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đồng chí tiếp tục được giao những trọng trách quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi nóng bỏng của sự nghiệp cách mạng. Bất kỳ ở đâu, trong hoàn cảnh nào, cả trong và ngoài Quân đội, đồng chí vẫn luôn thể hiện là đảng viên kiên trung, một nhà lãnh đạo tài năng, không chịu lùi bước trước bất kỳ khó khăn, thử thách nào.
Để xây dựng Quân đội vững mạnh, đáp ứng yêu cầu đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước sang giai đoạn mới, năm 1950, đồng chí được giao làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Phó Bí thư Tổng Quân ủy. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh, công tác đảng, công tác chính trị có bước tiến vượt bậc; trở thành “linh hồn, mạch sống” của Quân đội.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II năm 1951, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được cử vào Bộ Chính trị. Năm 1959, đồng chí được phong quân hàm Đại tướng.
Trưởng thành từ phong trào cách mạng, đến khi giữ các vị trí trọng trách của Đảng, Quân đội, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh luôn là con người của thực tiễn, nắm bắt thực tiễn cộng với tư duy sáng tạo, đồng chí đã có những chỉ đạo quyết liệt, đúng đắn, giải quyết được những vấn đề căn cốt do thực tiễn cách mạng đặt ra. Trước những khó khăn trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trên địa bàn Thừa Thiên, đồng chí đã đưa ra những chủ trương, quyết sách sáng tạo như: Không để mất dân, kiên trì bám đất, bám dân, tập hợp lực lượng, ổn định tổ chức, xây dựng căn cứ, sẵn sàng cho cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ. Dưới sự lãnh đạo của đồng chí, các lực lượng vũ trang tích cực hỗ trợ nhân dân trong vùng tạm chiếm nổi dậy phá tề, trừ gian, diệt ác, đẩy mạnh chiến tranh du kích… đưa Bình-Trị-Thiên trở thành một điển hình trong phong trào đấu tranh của cả nước, được đúc kết kinh nghiệm và phổ biến rộng rãi trong nhiều địa phương. Đồng chí được mệnh danh là “Tướng du kích”, là linh hồn của cuộc kháng chiến ở Bình-Trị-Thiên.
Cuối năm 1964, đồng chí được điều vào miền Nam, giữ chức Bí thư Trung ương Cục miền Nam, Chính ủy Quân giải phóng miền Nam. Đây là một trong những thời điểm then chốt của cách mạng miền Nam. Trên cương vị người lãnh đạo, chỉ đạo cao nhất tại chiến trường, với tư duy chiến lược toàn diện cùng bề dày kinh nghiệm, đồng chí đã vận dụng sáng tạo đường lối, chủ trương của Đảng, phân tích tương quan so sánh lực lượng giữa ta và địch, dự báo chính xác diễn tiến của chiến tranh. Từ những đánh giá khoa học về thế và lực của cả ta và địch, đồng chí khẳng định: quân và dân ta hoàn toàn có đủ sức mạnh của chiến tranh nhân dân để “không sợ Mỹ, dám đánh Mỹ, quyết thắng Mỹ”. Đại tướng cho rằng, để đánh thắng quân đội Mỹ, phải xây dựng lực lượng chủ lực mạnh, thực hiện tác chiến tập trung, tổ chức tác chiến quy mô chiến dịch. Đây là yêu cầu tất yếu khách quan của chiến tranh chính quy. Do đó, cùng với chỉ đạo phát triển lực lượng du kích, chiến tranh du kích, đồng chí đặc biệt chú trọng lãnh đạo xây dựng lực lượng chủ lực. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của đồng chí, các “quả đấm chủ lực” của Quân giải phóng miền Nam đã lần lượt được thành lập.
Và từ thực tiễn chiến trường và qua báo cáo của cán bộ, chiến sĩ trực tiếp chiến đấu, Đại tướng đề ra khẩu hiệu: “Nắm thắt lưng Mỹ mà đánh”. Từ đây, khẩu hiệu này trở thành phương châm chủ đạo trong cách đánh, tổ chức chiến dịch và thực hành chiến thuật để đánh thắng đế quốc Mỹ. Có thể nói, đây là cách đánh đặc thù của Việt Nam, đó là cách đánh gần, đánh thẳng vào quân Mỹ ở ngay căn cứ xuất phát hành quân của chúng, đánh bằng trang bị vũ khí, điều kiện của dân tộc Việt Nam, buộc kẻ địch mạnh phải đánh theo cách đánh của ta. Từ những trận thắng Mỹ đầu tiên ở Núi Thành - Quảng Nam (tháng 5/1965), Vạn Tường - Quảng Nam (tháng 8-1965), Đất Cuốc - thị xã Biên Hòa (tháng 11/1965), cùng những trận đánh Bầu Bàng, Ia Drăng... đã động viên, khích lệ tinh thần đánh Mỹ của quân dân cả nước. Cũng từ thực tiễn chiến đấu mà quân và dân miền Nam đã hình thành nên những “vành đai diệt Mỹ" ở ngay cửa ngõ Sài Gòn và các trung tâm lớn như Đà Nẵng...
Không chỉ là người chỉ đạo vững vàng, mưu lược, tài trí mà Đại tướng Nguyễn Chí Thanh còn góp phần quan trọng vào việc phát triển lý luận nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Từ thực tiễn chiến đấu và trải nghiệm của bản thân, ông đi sâu nghiên cứu, phát hiện sớm việc chuyển hướng chiến lược của Mỹ để Đảng điều chỉnh chiến lược phù hợp; đồng thời, trên cơ sở nắm bắt chuyển biến mới của chiến trường, đề xuất nhiều chủ trương chiến lược, sách lược đúng đắn, nhất là việc tổ chức các đơn vị chủ lực cơ động cấp trung, sư đoàn đứng chân trên các chiến trường miền Nam nhằm hình thành nên những cách đánh thích hợp, độc đáo của quân và dân Việt Nam.
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã góp công lớn vào việc đặt cơ sở lý luận cho cách đánh của chiến tranh nhân dân, vạch rõ tính ưu việt, qua đó động viên, tổ chức các lực lượng vũ trang ta quán triệt tinh thần cách đánh đó theo tư tưởng quân sự của Đảng. Đồng chí đã có những cống hiến đặc biệt quan trọng trong những quyết định có tính chất bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, xứng đáng là nhà chiến lược quân sự tài năng, người chỉ đạo thực tiễn xuất sắc, danh nhân chính trị, quân sự thời đại Hồ Chí Minh.
Ngày 6/7/1967, đúng vào ngày lên đường trở lại chiến trường miền Nam, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đột ngột qua đời sau một cơn đau tim nặng.
Tấm gương tài, đức vẹn toàn của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã được Trung ương Đảng đánh giá: “là một đồng chí lãnh đạo trung thành, lỗi lạc, người chỉ huy mưu lược, tài trí, một đồng chí dũng cảm, kiên quyết; một người con ưu tú, người lãnh đạo xuất sắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ví Đại tướng Nguyễn Chí Thanh như “đại bàng bay cao, nhìn xa”, “là một người thật thà, gan góc và kiên quyết”. Cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi, phong phú, cùng với những cống hiến xuất sắc về lý luận và thực tiễn của đồng chí Nguyễn Chí Thanh là một di sản tinh thần quý báu trong lịch sử đấu tranh cách mạng Việt Nam”.
Với những cống hiến xuất sắc cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã được Đảng, Nhà nước trao tặng, truy tặng: Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều phần thưởng cao quý khác./.



