Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - Nhà lãnh đạo xuất sắc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng
Sinh ngày 1 tháng 1 năm 1914 tại thôn Niêm Phò, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, Nguyễn Vịnh - tên khai sinh của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - đã sớm nhận thức được nỗi đau của dân tộc dưới áp bức thực dân Pháp và phong kiến tay sai. Được ánh sáng chủ nghĩa Mác-Lênin và con đường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soi đường, thanh niên Nguyễn Vịnh hăng hái dấn thân vào phong trào cách mạng từ năm 1934, và tháng 7 năm 1937 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.
Đây chỉ là khởi đầu cho một cuộc đời cách mạng sôi nổi hơn 30 năm. Chỉ sau một năm gia nhập Đảng, ông đã được cử làm Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên lúc mới 24 tuổi, trở thành người lãnh đạo cao nhất của Đảng bộ tỉnh, chịu trách nhiệm thống nhất tư tưởng chính trị, tập hợp lực lượng đảng viên và đưa phong trào cách mạng vượt qua thác ghềnh. Trong thời gian làm Bí thư Tỉnh ủy, ông đã dẫn dắt đồng bào khơi dậy ý chí cách mạng quật cường, biến Huế thành trung tâm cách mạng sôi nổi ở Trung Kỳ.
Đến những năm 1938, ông đã ba lần bị địch bắt, giam giữ trong các nhà lao Thừa Phủ, Lao Bảo và Buôn Ma Thuột. Nhưng ngục tù đế quốc không làm lay chuyển tinh thần của người cộng sản kiên trung. Ông thành lập chi bộ nhà lao, tổ chức học tập văn hóa và chính trị, biến nhà tù thành trường học cách mạng, giúp các chiến sĩ yêu nước giữ vững khí tiết và chuẩn bị cho cuộc đấu tranh tiếp theo.
Tháng 8 năm 1945, ông được cử đi dự Hội nghị toàn quốc của Đảng tại Tân Trào, khi nghe có tên Nguyễn Chí Thanh trong danh sách Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nguyễn Vịnh đã ngỡ ngàng hỏi đồng chí Võ Nguyên Giáp: “Nguyễn Chí Thanh là ai mà nghe lạ thế!”. Đồng chí Võ Nguyên Giáp đã mỉm cười trả lời: “Là anh chứ ai nữa, chính Bác đặt tên cho anh đấy”. Từ đó, cái tên Nguyễn Chí Thanh trở thành một phần lịch sử của quân đội và cách mạng Việt Nam, khẳng định trách nhiệm của ông với sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh điều động ông sang công tác trong Quân đội, giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Bộ Tổng Tư lệnh, Phó Bí thư Tổng Quân ủy. Tại đây, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã có những đóng góp to lớn trong việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh toàn diện. Ông luôn nhấn mạnh rằng công tác chính trị, tư tưởng là “linh hồn, mạch sống” của quân đội, và sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với Quân đội là nhân tố quyết định sự chiến thắng.
Để thực hiện quan điểm này, ông đã chỉ đạo thành lập hệ thống cơ quan chính trị và thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên xuống đến cấp đại đội, giúp công tác đảng và chính trị phát huy hiệu lực, trở thành trụ cột quan trọng quyết định sức mạnh tổng hợp của Quân đội. Dưới sự lãnh đạo của ông, công tác đảng và chính trị trong quân đội đã có bước phát triển mới cả về nội dung và hình thức, nâng cao nhanh chóng sức chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân.
Tháng 10 năm 1964, trước tình hình phức tạp của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được Bộ Chính trị cử giữ cương vị Bí thư Trung ương Cục, Bí thư Quân ủy Miền, Chính ủy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam. Khi Mỹ chuyển sang “Chiến lược chiến tranh cục bộ” và đưa quân trực tiếp vào tham chiến trên chiến trường miền Nam, nhiều người đã có lo ngại về sức mạnh của đội quân viễn chinh Mỹ. Nhưng Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã có tư duy biện chứng trong đánh giá tương quan lực lượng: ông nhận định Mỹ đang ở thế bị động về chiến lược, tinh thần binh sĩ không ổn định, và địa hình chiến trường miền Nam không phải là điều kiện lý tưởng cho quân Mỹ triển khai đội hình tác chiến theo kiểu chiến tranh quy ước.
Dựa trên phân tích này, ông đã đưa ra phương châm tác chiến “Cứ đánh Mỹ sẽ tìm ra cách đánh thắng Mỹ”, và hình thành tư tưởng chiến lược “Bám lấy thắt lưng địch mà đánh”, “Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”. Ông kêu gọi quân và dân miền Nam phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, quyết chiến, quyết thắng, hạn chế sức mạnh hỏa lực và khả năng cơ động của quân Mỹ.
Thực hiện phương châm chỉ đạo này, quân và dân miền Nam đã làm nên những chiến thắng lớn như Núi Thành, Vạn Tường, Plây Me - Ia Đrăng, chứng tỏ khả năng đánh thắng quân viễn chinh Mỹ. Dưới sự lãnh đạo của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, các “quả đấm chủ lực” của Quân Giải phóng miền Nam đã được thành lập, và cuộc kháng chiến đã vượt qua những thử thách ngặt nghèo nhất.
Cuối năm 1966, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã trình báo cáo với Bác Hồ và Bộ Chính trị về kế hoạch Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân năm 1968, và hẹn sẽ quay trở lại chiến trường miền Nam vào ngày 6 tháng 7 năm 1967. Nhưng đúng vào ngày ấy, ông đã qua đời đột ngột do cơn đau tim.
Trưa ngày 5 tháng 7 năm 1967, ông đã đến ăn cơm cùng Bác Hồ và chào tạm biệt, Bác Hồ đã nói: “Lần này chú vào, phải quyết tâm mở một chiến dịch lớn để giành lợi thế trên chiến trường, đón Bác vào thăm đồng bào chiến sĩ miền Nam”. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã trả lời: “Cháu vào Nam, sẽ cố gắng đánh Mỹ cho tốt, thực hiện lời dặn của Bác, sớm đưa Bác vào thăm miền Nam”. Đó là đoạn đối thoại cuối cùng giữa ông và Bác Hồ.
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã qua đời ở tuổi 53, mang theo cả những kế hoạch chiến lược và lời hứa chưa thực hiện với Bác Hồ và dân tộc. Nhưng di sản của ông vẫn còn mãi với thời gian: tư tưởng xây dựng Quân đội về chính trị, tư tưởng, phương châm tác chiến “Nắm thắt lưng địch mà đánh”, và tinh thần kiên cường, quyết chiến của người cộng sản kiên trung.
Hôm nay, khi nhìn lại cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, chúng ta thấy một nhà lãnh đạo xuất sắc, người đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng Đảng và Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông là tấm gương sáng ngời để các thế hệ hôm nay và mai sau học tập, noi theo.


