Đại tướng Nguyễn Chí Thanh – vị tướng của công tác tư tưởng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh – vị tướng của công tác tư tưởng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là một trong những nhà lãnh đạo quân sự, chính trị xuất sắc của Đảng và Quân đội nhân dân Việt Nam. Không chỉ là vị tướng trực tiếp chỉ đạo nhiều chiến dịch quan trọng trên chiến trường miền Nam, ông còn được biết đến là người có nhiều đóng góp đặc biệt trong công tác Đảng, công tác chính trị, xây dựng niềm tin, ý chí quyết tâm chiến đấu và tinh thần “dám đánh, biết đánh, quyết thắng” của quân và dân ta.
Nhận nhiệm vụ vào chiến trường miền Nam trong thời điểm quyết định
Cuối năm 1964, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn mới. Sau thất bại của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đứng trước nguy cơ thất bại hoàn toàn tại miền Nam. Để cứu vãn tình thế, Mỹ từng bước chuẩn bị đưa quân chiến đấu trực tiếp vào miền Nam Việt Nam, mở rộng quy mô chiến tranh.
Trước tình hình đó, ngày 25 và 26/9/1964, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đề ra chủ trương tập trung mọi lực lượng, quyết tâm đưa cách mạng miền Nam giành thắng lợi quan trọng trong những năm tới.
Hội nghị xác định nhiều nhiệm vụ cấp bách: kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị và binh vận; đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang; mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc; phát triển phong trào cách mạng ở nông thôn, đô thị; xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc.
Nhận thấy tình hình chiến trường miền Nam ngày càng quan trọng, Bộ Chính trị quyết định cử đồng chí Nguyễn Chí Thanh – Ủy viên Bộ Chính trị, một cán bộ giàu kinh nghiệm lãnh đạo và chỉ huy – vào tăng cường cho chiến trường.
Trước khi lên đường, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn các cán bộ được giao nhiệm vụ vào Nam: “Đánh Pháp đã khó, đánh Mỹ còn khó hơn. Đảng và Chính phủ giao cho các chú vào trong đó cùng với đồng bào miền Nam đánh Mỹ cho kỳ được thắng lợi”.
Thực hiện lời căn dặn của Bác, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh vào chiến trường miền Nam với trọng trách Bí thư Trung ương Cục miền Nam, trực tiếp cùng Trung ương Cục và Quân ủy Miền lãnh đạo quân, dân miền Nam bước vào cuộc đối đầu quyết liệt với quân đội Mỹ và chính quyền Sài Gòn.
Người xây dựng niềm tin chiến thắng trên chiến trường miền Nam
Trong những năm tháng ở chiến trường miền Nam, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã cùng tập thể lãnh đạo Trung ương Cục, Quân ủy Miền đề ra nhiều chủ trương đúng đắn, sáng tạo, phát huy sức mạnh của chiến tranh nhân dân.
Dưới sự lãnh đạo của ông và các đồng chí trong Trung ương Cục, quân và dân miền Nam đã đánh bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô của Mỹ và quân đội Sài Gòn trong các năm 1965-1966 và 1966-1967, với nhiều chiến thắng quan trọng như các chiến dịch Cedar Falls, Attleboro, Junction City.
Nhưng dấu ấn nổi bật của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh không chỉ nằm ở tài năng tổ chức, chỉ huy quân sự mà còn ở khả năng nắm bắt, giải quyết vấn đề tư tưởng của bộ đội và nhân dân.
Trong điều kiện quân Mỹ trực tiếp tham chiến với ưu thế lớn về vũ khí, trang bị, nhiều người đặt ra câu hỏi: Liệu quân và dân miền Nam có đủ sức đánh bại một đội quân hiện đại như Mỹ hay không?
Trước yêu cầu đó, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã tập trung giải quyết vấn đề quan trọng hàng đầu: xây dựng niềm tin và quyết tâm chiến đấu.
Ông khẳng định, muốn chiến thắng kẻ thù trước hết phải có ý chí, có niềm tin và có bản lĩnh chính trị vững vàng. Theo ông: “Có vũ khí tư tưởng sắc bén mới có vũ khí bằng sắt thép sắc bén để chiến thắng quân thù”.
Đây không chỉ là một quan điểm về công tác tư tưởng mà còn là sự tổng kết sâu sắc từ thực tiễn chiến trường. Bởi trong chiến tranh, sức mạnh vật chất rất quan trọng nhưng yếu tố quyết định vẫn là con người, là tinh thần chiến đấu, là ý chí quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thử thách.
“Chí phải quyết, lòng phải bền” – bài học về sức mạnh tinh thần
Sau thắng lợi trong mùa khô 1965-1966, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã viết nhiều bài nghiên cứu, tổng kết nhằm làm rõ nguyên nhân thắng lợi của quân và dân miền Nam.
Ông phân tích rằng, mặc dù Mỹ có ưu thế lớn về quân sự, nhưng lại gặp những hạn chế về chính trị, tinh thần và chiến lược. Trong khi đó, quân và dân ta có sức mạnh của chính nghĩa, có sự đoàn kết toàn dân, có hậu phương vững chắc và đặc biệt là có quyết tâm chiến đấu cao.
Theo ông, thắng lợi của ta bắt nguồn từ nhiều yếu tố: biết đánh giá đúng tình hình, phát huy sức mạnh của chiến tranh nhân dân, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự, chính trị và binh vận; phát huy vai trò của ba thứ quân; chủ động tiến công và buộc địch phải đánh theo cách của ta.
Trong bài viết về công tác tư tưởng của quân dân miền Nam trong chiến thắng mùa khô 1965-1966, ông nhấn mạnh rằng vấn đề quan trọng nhất khi bước vào cuộc chiến đấu chống Mỹ là phải xây dựng lập trường kiên định, quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ.
Ông tổng kết bằng một quan điểm giản dị nhưng sâu sắc: “Muốn đánh giặc, thắng giặc thì trước hết gan phải to, chí phải quyết, lòng phải bền”.
Luận điểm ấy đã trở thành nguồn động viên to lớn, góp phần xây dựng bản lĩnh và ý chí chiến đấu của quân và dân miền Nam trong những năm tháng chiến tranh ác liệt.
Vị tướng tài ba của Đảng, quân đội và nhân dân
Chỉ trong hơn một năm trực tiếp hoạt động tại chiến trường miền Nam, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã để lại dấu ấn sâu đậm trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Ông không chỉ là một nhà lãnh đạo quân sự tài năng, một vị tướng có tư duy chiến lược sắc bén mà còn là một nhà chính trị, nhà tư tưởng xuất sắc của Đảng và Quân đội nhân dân Việt Nam.
Những quan điểm của ông về công tác tư tưởng, xây dựng quyết tâm chiến đấu, phát huy sức mạnh chính trị tinh thần vẫn còn nguyên giá trị trong công tác xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân ngày nay.
Cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là biểu tượng của lòng trung thành với Đảng, với Tổ quốc, của tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì sự nghiệp cách mạng.
Tên tuổi của ông mãi gắn liền với một thời kỳ lịch sử hào hùng của dân tộc – thời kỳ cả nước chung sức, đồng lòng chiến đấu vì độc lập, tự do và thống nhất đất nước.


