Đại tướng Nguyễn Chí Thanh: "Vị Tướng Của Nông Dân" Và Cánh Chim Đầu Đàn Của Gió Đại Phong
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh: "Vị Tướng Của Nông Dân" Và Cánh Chim Đầu Đàn Của Gió Đại Phong

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh: "Vị Tướng Của Nông Dân" Và Cánh Chim Đầu Đàn Của Gió Đại Phong
Trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, nếu Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người Anh Cả lỗi lạc về chiến lược quân sự, thì vị Đại tướng thứ hai — Nguyễn Chí Thanh — lại là biểu tượng rực rỡ của bản lĩnh chính trị kiên cường, lối sống bình dị gắn bó máu thịt với nhân dân và nghệ thuật đánh giặc sáng tạo: "Nắm thắt lưng địch mà đánh".
(Lưu ý nhỏ: Trên giao diện hiện tại, công cụ hiển thị ảnh trực tiếp đang tạm thời không khả dụng, nhưng mình đã đính kèm các mô tả tư liệu lịch sử chi tiết nhất ở cuối bài để bạn dễ dàng tra cứu khi cần làm học liệu hoặc trình chiếu).
Người con xứ Huế và tên gọi do Bác Hồ đặt
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tên thật là Nguyễn Vịnh, sinh ngày 1 tháng 1 năm 1914 trong một gia đình nông dân nghèo tại thôn Niêm Phò, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Bốn tuổi đã mồ côi cha, tuổi thơ của Nguyễn Vịnh là những tháng ngày lam lũ đi cày thuê, cuốc mướn. Chính từ cuộc sống cơ cực ấy, ông sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng và gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương vào tháng 7 năm 1937. Với tính cách quyết liệt, gan dạ, chỉ một năm sau ông đã trở thành Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên. Ba lần bị thực dân Pháp bắt giam tại các nhà lao Thừa Phủ, Lao Bảo, Buôn Ma Thuột (từ 1938 đến 1943), mọi đòn roi tra tấn vẫn không khuất phục được ý chí của người chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi.
Tháng 8 năm 1945, tại Quốc dân Đại hội Tân Trào (Tuyên Quang), đồng chí Nguyễn Vịnh được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp đặt tên mới là Nguyễn Chí Thanh — gửi gắm kỳ vọng về một người có ý chí trong sáng, kiên định vì nước vì dân.
Linh hồn của công tác Chính trị và làn "Gió Đại Phong"
Năm 1950, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Pháp bước vào giai đoạn phản công quyết liệt, Nguyễn Chí Thanh được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Cùng với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông đã góp phần xây dựng nên bản chất cách mạng, kỷ luật sắt và tinh thần quyết chiến quyết thắng cho bộ đội Cụ Hồ.
Ngày 31 tháng 8 năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 36/SL chính thức phong quân hàm Đại tướng cho đồng chí Nguyễn Chí Thanh khi ông mới 45 tuổi.
Điều đặc biệt nhất ở vị Đại tướng này là sau khi miền Bắc hòa bình lập lại, năm 1961, khi ngành nông nghiệp gặp muôn vàn khó khăn, ông đã tự nguyện xin Trung ương cho đảm nhận chức vụ Trưởng ban Công tác Nông thôn Trung ương. Một vị Đại tướng bốn sao không ngồi bàn giấy mà xắn quần lội ruộng, đi khắp các tỉnh thành ăn cơm độn khoai, ngủ nhà dân để tìm hiểu từng giống lúa, từng công trình thủy lợi.
Từ thực tiễn khảo sát tại Hợp tác xã Đại Phong (huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình), ông đã phát hiện và nhân rộng điển hình này thành phong trào thi đua "Gió Đại Phong" vang dội toàn miền Bắc, tạo nên câu khẩu hiệu lịch sử: "Sóng Duyên Hải, Gió Đại Phong, Cờ Ba nhất, Trống Bắc Lý". Nhân dân trìu mến gọi ông bằng cái tên bình dị mà cao quý: "Đại tướng của nông dân".
Vị Tư lệnh chiến trường miền Nam và chiến thuật "Nắm thắt lưng địch mà đánh"
Cuối năm 1964, khi đế quốc Mỹ chuẩn bị ồ ạt đưa quân viễn chinh trực tiếp vào miền Nam Việt Nam, Trung ương Đảng và Bác Hồ quyết định cử Đại tướng Nguyễn Chí Thanh vào chiến trường giữ chức Bí thư Trung ương Cục miền Nam kiêm Chính ủy Quân giải phóng miền Nam (với bí danh anh Sáu Di).
Khi hàng chục vạn lính thủy đánh bộ Mỹ cùng xe tăng, máy bay B-52 tối tân đổ bộ vào miền Nam (năm 1965), nhiều nước bạn bè lo ngại lực lượng cách mạng Việt Nam khó lòng đương đầu trực diện với hỏa lực khổng lồ của Mỹ.
Bằng nhãn quan quân sự sắc bén và niềm tin tuyệt đối vào sức mạnh của chiến tranh nhân dân, tại Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua miền Nam (tháng 5/1965) và sau trận Vạn Tường (tháng 8/1965), Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã đúc kết một phương châm tác chiến đi vào lịch sử quân sự hiện đại:
"Cứ nắm thắt lưng địch mà đánh!"
Ông phân tích rất cụ thể và dễ hiểu cho người lính: Quân Mỹ mạnh ở pháo binh và không quân tầm xa; nếu bộ đội ta đứng xa thì sẽ hứng chịu bom đạn của chúng. Nhưng nếu ta áp sát trận địa, đánh giáp lá cà ("nắm lấy thắt lưng chúng"), máy bay và đại bác của Mỹ sẽ bị vô hiệu hóa vì sợ bắn nhầm vào chính quân mình. Tư tưởng "Tìm Mỹ mà diệt, tìm ngụy mà đánh" của Đại tướng đã thổi bùng các phong trào giành danh hiệu "Dũng sĩ diệt Mỹ", làm phá sản liên tiếp hai cuộc phản công chiến lược mùa khô (1965–1966 và 1966–1967) của Mỹ.
Sự ra đi đột ngột trước ngày vào Nam
Tháng 6 năm 1967, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh ra Hà Nội để báo cáo với Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh về tình hình chiến trường miền Nam cũng như bàn kế hoạch cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.
Thế nhưng, ngay trong đêm chuẩn bị lên đường trở lại chiến trường miền Nam, rạng sáng ngày 6 tháng 7 năm 1967, Đại tướng đột ngột qua đời vì một cơn đau tim nặng tại Hà Nội, hưởng dương 53 tuổi. Sự ra đi của ông để lại niềm tiếc thương vô hạn cho Bác Hồ, toàn Đảng, toàn quân và đồng bào hai miền Nam - Bắc. Nhà thơ Tố Hữu đã nghẹn ngào viết những câu thơ tiễn biệt người anh lớn:
"Ôi! Sống như Anh, sống trọn đời Chói lọi như sao, chẳng chút mờ Thương dân, thương Đảng, thương đồng chí Một tấm lòng son, vạn ý thơ..."
Gợi ý các bức ảnh tư liệu lịch sử xác thực về Đại tướng (để tra cứu khi làm bài trình chiếu):
"Lễ phong quân hàm Đại tướng năm 1959": Bức ảnh tư liệu chụp Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp chúc mừng đồng chí Nguyễn Chí Thanh trong lễ thụ phong quân hàm Đại tướng ngày 31/8/1959 tại Phủ Chủ tịch.
"Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tại chiến khu miền Đông Nam Bộ (1965–1966)": Hình ảnh Đại tướng trong bộ quân phục giải phóng giản dị, đội mũ tai bèo, quàng khăn rằn đang trò chuyện thân mật cùng các chiến sĩ Quân giải phóng dưới tán rừng.
"Đại tướng Nguyễn Chí Thanh thăm hợp tác xã nông nghiệp": Bức ảnh ghi lại khoảnh khắc vị Đại tướng xắn quần lội ruộng, tươi cười trò chuyện cùng bà con nông dân trên cánh đồng miền Bắc đầu những năm 1960.



