Đại tướng Nguyễn Chí Thanh – Vị tướng du kích thiên tài, linh hồn của phong trào "Gió Đại Phong" và "Cờ Ba Nhất"
Trong thế kỷ XX, quân đội Việt Nam tự hào vì có những vị tướng trưởng thành từ phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân. Nếu như Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người Anh cả với tầm nhìn chiến lược xoay chuyển cục diện đại chiến, thì Đại tướng Nguyễn Chí Thanh lại là một biểu tượng vô song của người chiến sĩ gan góc, vị tướng phong trào xuất sắc, người đã truyền lửa chiến đấu và lao động từ hầm tối chiến trường ra tới đồng ruộng quê hương. Ông là vị Đại tướng thứ hai của Quân đội Nhân dân Việt Nam, người được mệnh danh là "vị tướng du kích thiên tài", "vị tướng của nông dân" – một nhân cách kiệt xuất luôn có mặt ở những nơi gian khổ, ác liệt nhất để xoay chuyển tình thế gian nguy.
Nguyễn Chí Thanh tên thật là Nguyễn Vịnh, sinh năm 1914 tại thôn Niêm Phò, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo bần hàn, ngay từ thủa nhỏ ông đã thấu hiểu sâu sắc nỗi khổ đau, tủi nhục của người dân cày mất nước dưới ách cai trị của thực dân Pháp và chế độ phong kiến lỗi thời. Với tư chất thông minh, tính tình khẳng khái, kiên cường, ông sớm tham gia vào các phong trào đấu tranh của thanh niên yêu nước địa phương và chính thức đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản Đông Dương vào năm 1937, khi mới 23 tuổi.
Trong suốt thời kỳ tiền khởi nghĩa, Nguyễn Chí Thanh là linh hồn của phong trào cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông nhiều lần bị giặc Pháp bắt giữ, gông cùm và tra tấn tàn khốc qua các nhà lao Huế, Lao Bảo, Buôn Ma Thuột. Nhưng "địa ngục trần gian" của kẻ thù không thể khuất phục được ý chí thép của người cộng sản trẻ tuổi. Mỗi lần ra tù, ông lại lập tức tìm cách bắt liên lạc với tổ chức, gây dựng lại phong trào, chuẩn bị lực lượng cho cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi hoàn toàn ở miền Trung.
Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Nguyễn Chí Thanh được Đảng và Bác Hồ giao nhiều trọng trách lớn. Năm 1950, ông được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, đồng thời là Phó Bí thư Tổng Quân ủy. Ông chính là người có công lao to lớn trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống công tác Đảng, công tác chính trị trong quân đội, biến một đội quân đa số là nông dân áo vải thành một quân đội cách mạng có lý tưởng độc lập kiên định, kỷ luật thép và tinh thần "quyết chiến quyết thắng". Người đương thời vẫn nhớ mãi khẩu hiệu hành động nổi tiếng do ông phát động nhằm nâng cao sĩ khí quân sĩ: "Đảng viên đi trước, làng nước theo sau".
Năm 1959, ở tuổi 45, Nguyễn Chí Thanh được phong quân hàm Đại tướng, trở thành vị Đại tướng thứ hai của nước ta.
Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, đất nước tạm thời bị chia cắt, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã chứng minh một tài năng lãnh đạo bách khoa toàn diện khi được phân công làm Trưởng ban Nông nghiệp Trung ương vào năm 1961. Lúc bấy giờ, nền nông nghiệp miền Bắc đang gặp nhiều khó khăn, sa sút. Với tư duy bám sát thực tiễn của một người con xuất thân từ ruộng đồng, ông không ngồi một chỗ ở vương phủ mà trực tiếp lội ruộng, cuốc đất cùng nông dân, đến tận từng hợp tác xã để lắng nghe tâm tư của người cấy lúa.
Chính từ những chuyến đi thực tế ấy, ông đã phát hiện, tổng kết và thổi bùng lên phong trào thi đua "Gió Đại Phong" trong nông nghiệp, kết hợp với phong trào "Cờ Ba Nhất" trong quân đội, "Sóng Duyên Hải" trong công nghiệp. Những phong trào này đã tạo nên một làn sóng thi đua yêu nước cuồn cuộn chưa từng có, làm thay đổi hoàn toàn diện mạo kinh tế, xã hội của miền Bắc, biến hậu phương thành một bệ phóng vững chắc để chi viện cho tiền tuyến miền Nam giết giặc.
Năm 1964, khi đế quốc Mỹ điên cuồng đổ quân viễn chinh vào miền Nam, trực tiếp tiến hành cuộc chiến tranh cục bộ tàn khốc, vận mệnh đất nước lại đứng trước thử thách ngàn cân treo sợi tóc. Để đối phó với đội quân xâm lược có trang bị vũ khí, công nghệ hiện đại, tối tân nhất thế giới, Đảng và Bác Hồ đã quyết định cử Đại tướng Nguyễn Chí Thanh vào miền Nam với cương vị Bí thư Trung ương Cục, Chính ủy Quân giải phóng miền Nam. Ông lên đường vào Nam dưới bí danh Anh Sáu Di".
Vào đến chiến trường Nam Bộ đầy bom đạn ác liệt, trước sự hoang mang của một số cán bộ về sức mạnh hỏa lực khủng khiếp của quân Mỹ, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã thể hiện bản lĩnh của một nhà chiến lược quân sự thiên tài. Ông trực tiếp ra tận chiến hào khảo sát, phân tích kỹ lưỡng điểm mạnh, điểm yếu của quân viễn chinh Mỹ. Từ thực tế xương máu, ông đã đúc kết nên một phương châm tác chiến độc đáo, lừng lẫy khắp chiến trường miền Nam: "Nắm thắt lưng địch mà đánh".
Phương châm thiên tài này có nghĩa là quân ta chủ động áp sát, đánh giáp lá cà, đánh kẹp nách quân Mỹ ở cự ly gần. Lúc này, hỏa lực hạng nặng nguy hiểm của Mỹ như pháo binh, máy bay ném bom chiến lược sẽ hoàn toàn bị vô hiệu hóa vì sợ bắn trúng chính quân mình. Chiến thuật này đã giúp quân dân miền Nam liên tiếp đập tan các cuộc hành quân quy mô lớn của Mỹ tại Núi Thành, Vạn Tường, bẻ gãy hoàn toàn chiến lược hai mùa khô của giặc.
Giữa lúc chiến trường miền Nam đang thắng lợi giòn giã, cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 đang được chuẩn bị khẩn trương, thì một mất mát đau đớn đã xảy ra. Ngày 6 tháng 7 năm 1967, sau khi ra Hà Nội để báo cáo tình hình chiến trường với Bác Hồ và Bộ Chính trị, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã đột ngột qua đời sau một cơn đau tim dữ dội, hưởng thọ 53 tuổi.
Sự ra đi đột ngột của ông ngay trước thềm những chiến dịch lớn là một tổn thất đau xót không gì bù đắp nổi cho Đảng, vương triều cách mạng và toàn thể quân đội. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh ngã xuống khi tuổi đời đang ở độ chín muồi nhất của tài năng quân sự và chính trị. Cả cuộc đời ông là một tấm gương sáng ngời về sự trung thành vô hạn với lý tưởng độc lập tự do, phong thái làm việc sâu sát quần chúng, tính cách chính trực, giản dị và một lòng thương yêu đồng chí, đồng bào hết mực. Ông mãi mãi là một vị tướng huyền thoại bất tử trong lòng nhân dân Việt Nam, một người con ưu tú của xứ Huế mộng mơ đã hiến dâng trọn vẹn xương máu cho sự thống nhất non sông gấm vóc.



