Anh hùng Lực lượng vũ trang

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh: Vị tướng được phong thẳng quân hàm Đại tướng và lời hứa dang dở với Bác Hồ

Huế25/10/2026Võ Thị Mỹ Quyên (Phường Cầu Ông Lãnh)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh: Vị tướng được phong thẳng quân hàm Đại tướng và lời hứa dang dở với Bác Hồ

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (1914-1967) là vị đại tướng thứ hai của Quân đội nhân dân Việt Nam sau Đại tướng Võ Nguyên Giáp, và là người duy nhất được phong thẳng quân hàm Đại tướng năm 1959 mà không qua cấp bậc nào trước đó. Ông không chỉ là một vị tướng tài ba mà còn là nhà lãnh đạo hoạt động sôi nổi, để lại dấu ấn trên nhiều lĩnh vực.

Ông tên thật là Nguyễn Vịnh, sinh ngày 1-1-1914 tại thôn Niêm Phò, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Cái tên Nguyễn Chí Thanh gắn với một câu chuyện thú vị. Đại hội Quốc dân ở Tân Trào (chiều 16 đến 17-8-1945) cử ra Ủy ban Dân tộc giải phóng gồm 15 người, ông đứng số 13 trong danh sách. Theo bài viết của Tiến sĩ Nguyễn Thành Hữu đăng trên báo Quân đội nhân dân, tại Hội nghị toàn quốc của Đảng ở Tân Trào tháng 8-1945, khi nghe tên Nguyễn Chí Thanh trong Ban Chấp hành Trung ương, Nguyễn Vịnh quay sang hỏi đồng chí Võ Nguyên Giáp đó là ai mà nghe lạ thế. Võ Nguyên Giáp mỉm cười đáp rằng đó chính là anh, do Bác đặt tên cho anh. Nguyễn Vịnh vừa ngỡ ngàng vừa sung sướng, và từ đó cái tên Nguyễn Chí Thanh trở thành một phần lịch sử của quân đội và cách mạng Việt Nam.

Ông tham gia cách mạng từ năm 1934 và gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1937. Ông từng giữ nhiều cương vị quan trọng: Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên, Bí thư Khu ủy khu IV, Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ, Bí thư Phân khu ủy Bình - Trị - Thiên, Bí thư Liên khu ủy IV, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Tại Đại hội II (1951), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương; tại Đại hội III (1960), ông tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị. Năm 1961, ông phụ trách Ban Nông nghiệp của Đảng. Từ năm 1965 đến 1967, ông vào miền Nam giữ chức Bí thư Trung ương Cục miền Nam, kiêm Chính ủy Quân Giải phóng miền Nam.

Theo Sắc lệnh số 36/SL ngày 31-8-1959 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 16 sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam được thăng quân hàm cấp tướng, trong đó ông được phong Đại tướng. Tại buổi lễ, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn các tướng dù ở cương vị nào cũng phải cố gắng xứng đáng là người đầy tớ trung thành, tận tụy của nhân dân. Ông là người đứng ra long trọng hứa với Bác: ra sức học tập, nâng cao trình độ, góp phần xây dựng quân đội tiến lên chính quy, hiện đại; trau dồi đạo đức cách mạng, rèn luyện tác phong khiêm tốn, giản dị, thắt chặt đoàn kết quân dân, làm tròn trách nhiệm Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch giao phó.

Khi vào chiến trường miền Nam với cương vị Bí thư Trung ương Cục, Chính ủy các lực lượng vũ trang Quân Giải phóng, ông đưa ra chiến thuật đánh áp sát với phương châm “Nắm thắt lưng địch mà đánh”. Chiến thuật này mang lại những chiến thắng liên tiếp như Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài. Từ thực tiễn chiến trường, ông tổng kết kinh nghiệm thành các bài báo gửi ra miền Bắc với các bút danh Trường Sơn, Người quan sát, S.K.Z, vừa phân tích sâu sắc tình hình, vừa thể hiện tư duy của một nhà chiến lược. Những chiến thuật ông vạch ra được Quân Giải phóng thực hiện hiệu quả, góp phần thay đổi tương quan lực lượng và diễn biến trên chiến trường.

Cuối năm 1966, từ chiến trường miền Nam, ông ra báo cáo với Bác Hồ và Bộ Chính trị về tình hình miền Nam, chuẩn bị kế hoạch Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968. Theo kế hoạch, ngày 6-7-1967 ông sẽ trở lại chiến trường, nhưng đúng ngày ấy ông qua đời vì bạo bệnh. Theo lời Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, con trai út của ông, trưa 5-7-1967 ông sang ăn cơm và chào tạm biệt Bác. Bác dặn lần này vào phải quyết tâm mở chiến dịch lớn để giành lợi thế, đón Bác vào thăm đồng bào chiến sĩ miền Nam. Chiều hôm đó, ông sang gặp Bác lần nữa, hứa sẽ cố gắng đánh Mỹ cho tốt, sớm đưa Bác vào thăm miền Nam, và mong Bác giữ gìn sức khỏe. Bác đáp: “Bác biết rồi. Chú cứ yên tâm vào Nam”. Đó là cuộc đối thoại cuối cùng giữa hai người. Ông không thực hiện được lời hứa đưa Bác vào Nam, và Bác cũng không chờ được đến ngày đất nước thống nhất. Khi nghe tin ông mất, ông Lê Duẩn thốt lên rằng anh Thanh mất, mang theo tất cả đi rồi.

Nhà thơ Tố Hữu, bạn cùng hoạt động cách mạng với ông, đã viết tặng ông bài thơ “Nhớ đồng” từ năm 1937. Khi ông qua đời, Tố Hữu khóc bạn bằng những vần thơ nhớ thương, ca ngợi một con người sống trọn đời, trong sáng như ngọc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn