Anh hùng Lực lượng vũ trang

Đại tướng Nguyễn Quyết

Đại tướng Nguyễn Quyết có tên khai sinh là Đào Nguyễn Quyết, sinh ngày 20 tháng 8 năm 1922 tại Hưng Yên. Ông nguyên là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam - Ủy viên thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương, Chính ủy - Tư lệnh - Bí thư Đảng ủy Quân khu 3, Chính ủy - Bí thư Quân khu Tả Ngạn, Phó Chính ủy Quân khu Trị Thiên - Chính ủy Mặt trận B8 (Quân khu Trị Thiên), Chủ nhiệm Chính trị Liên khu 5, Chính ủy Mặt trận Quảng Nam Đà Nẵng.

Lạng Sơn25/08/2026Phường Thốt Nốt (Đoàn phường Thốt Nốt)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Đại tướng Nguyễn Quyết

Ngoài ra ông từng là: Đại biểu Quốc hội, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (nay là Phó Chủ tịch nước), Bí thư thành ủy Hà Nội trong Cách mạng tháng 8.

Ông đã từng được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng (2007), Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 60, 70, 80 năm tuổi Đảng...

Ông đã được thăng phong quân hàm qua các thời kỳ: Đại tá (1958), Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980), Thượng tướng (1986) và Đại tướng (1990)

Quê ông ở thôn Dưỡng Phú, xã Chính Nghĩa, huyện Kim Động. Là con út trong gia đình 10 anh em, ông may mắn hơn cả, được bố mẹ dành dụm từng xu nuôi ăn học hết tiểu học. Nguyễn Tiến Văn là tên cúng cơm bố mẹ đặt cho ông để gửi gắm kỳ vọng muốn ông cố gắng vượt lên đói nghèo bằng con đường kẻ sỹ. Vừa mới biết nhận thức, ông đã phải chứng kiến cảnh "nhìn thấy gia đình lúc nào cũng khóc", đã phải chứng kiến cái cảnh tử biệt sinh ly cũng bởi do cảnh nghèo. Người chị cả lấy chồng, cũng vì nghèo mà 2 vợ chồng phải đi phu cao su ở Tân Thế Giới. Người chị thứ hai trong cái năm 45 khủng khiếp vì đói đã phải lang thang khắp chốn rồi cũng không biết qua đời ở đâu, lúc nào. Những người anh lớn lên, người thì mất vì bạo bệnh, người thì theo nghề phu phen đi culi cao su ở Campuchia. Hai người chị trên ông, một người cũng vì cảnh nghèo mà bố mẹ phải ép gả cho người khác, vì không chịu mà bỏ trốn đi tu, sau cũng biệt tích đến giờ chưa tìm được mộ, người còn lại cũng phải đi ở cho nhà địa chủ...

Là một họ nhỏ trong làng, lại là dân ngụ cư, tuổi thơ của ông cũng là những tháng ngày sống trong cảnh hà hiếp của đám lý dịch trong làng, chỉ chờ có cơ hội là ném rượu lậu vào nhà dân để báo quan Tây bắt, cho dù những người bần cùng ấy chỉ lần hồi sống qua ngày bằng một gánh hàng xáo, bằng những bát cháo được nấu từ thứ gạo đi mót... Hồi nhỏ có lần ông chứng kiến bố ông không chịu được bất công đã cãi lại một tên cường hào. Bị đánh đập, còn trả thù đem rượu lậu bỏ vào nhà rồi lên báo tri huyện cho người về khám xét, bắt bớ…

Trong cái cảnh mờ mịt lúc nào cũng thấy đói thấy khổ ấy, mẹ ông đặt hết hy vọng vào cậu con út Nguyễn Tiến Văn bằng cách khó mấy cũng cho ông đi học. Hết lớp nhất, đến khi phải đi trọ học thì gia đình cũng không thể nuôi ông được nữa. Hết cách, bà cô ruột gửi ông lên chùa Quán Sứ nhờ một vị sư tìm cho chân giúp việc với ý định dần dần sẽ gửi hẳn ông nương nhờ vào cửa Phật (năm 1937). Nhưng trong những ngày làm chân loong toong chạy phát hành cho tờ "Đuốc Tuệ", ông may mắn được tiếp xúc với giới công nhân và giới báo chí văn nghệ sĩ đang chịu ảnh hưởng mạnh của phong trào “dân sinh dân chủ”.

Cũng từ những mối quan hệ ấy, ông được tiếp cận với sách báo của Đảng, được giác ngộ về báo chí cách mạng. Quãng thời gian ấy đủ để ông lần đầu tiên đưa ra một quyết định quan trọng trong đời mình: bỏ con đường tu hành để theo cách mạng. Hai lần ông được điều về Hưng Yên hoạt động xây dựng phong trào. Lần thứ nhất là năm 1939. Nhiệm vụ đầu tiên ông được giao là xây dựng phong trào phản đế ở huyện Kim Động. Ông nhằm vào thanh niên vì đây là đối tượng hăng hái và nhạy bén. Dưới danh nghĩa là phóng viên báo Đuốc Tuệ, ông đi lại nhiều nơi, bắt mối kết nạp thêm được nhiều hội viên. Phong trào phát triển mạnh. Đây là cơ sở để ông thành lập Ban chấp hành thanh niên phản đế huyện Kim Động. Đây cũng là thời kỳ ông bắt đầu xây dựng cơ sở cách mạng ở Dưỡng Phú để làm chỗ đứng chân rồi phát triển ra nơi khác...

Năm 1940, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Cuối năm 1941, phong trào ở Hưng Yên bị địch khủng bố ác liệt. Nhiều cơ sở tan vỡ. Trước tình hình đó, ông được điều về củng cố xây dựng lại phong trào, trực tiếp phụ trách địa bàn nam Hưng Yên. Gặp ông trở về, những cơ sở chưa bị lộ phấn khởi bảo “Cách mạng còn”. Đặc biệt là thôn Dưỡng Phú, quê ông, nơi có số đảng viên cũng như hội viên cứu quốc và quần chúng có cảm tình với cách mạng đông nhất, tất cả đều vững vàng kiên định, an toàn trong lúc địch khủng bố ác liệt nhất. Đến năm 1943, ông phát triển được hai chi bộ Dưỡng Phú và Tiên Cầu và được bầu vào Tỉnh ủy Hưng Yên. Hai chi bộ này trở thành trung tâm cách mạng, chỗ dựa vững chắc để phát triển phong trào ở phía nam tỉnh Hưng Yên.

Với những kinh nghiệm trong xây dựng cơ sở, chống địch khủng bố ở Hưng Yên, cuối năm 1943 ông được ông Hoàng Quốc Việt điều về ban cán sự của Hà Nội; là Thành ủy viên phụ trách xây dựng khu căn cứ ở ngoại thành và phong trào công nhân rồi Bí thư Thành ủy. Lúc này, ông Hoàng Văn Thụ, trực tiếp phụ trách Hà Nội bị địch bắt (sau đó bị địch xử bắn). Các tổ chức đảng của Hà Nội bị vỡ, không còn chi bộ, cơ sở trong phong trào công nhân cũng bị vỡ, các ông bí thư đều bị bắt hay bị lộ phải chuyển đi nơi khác… Tuân thủ nghiêm nguyên tắc hoạt động bí mật của Đảng trên cơ sở sáng tạo, linh hoạt, ông gây dựng được vùng ngoại thành rộng lớn trở thành khu căn cứ an toàn đến khi Cách mạng tháng Tám thắng lợi. Mọi hoạt động của ban cán sự, đoàn thể, lực lượng tự vệ đều phải dựa vào khu căn cứ ngoại thành, do nội thành mật thám dày đặc. Phong trào công nhân dần dần phục hồi phát triển…

Ngày 15/8/1945 khi phát xít Nhật đầu hàng đồng minh vô điều kiện. Trước cao trào mạnh mẽ của quần chúng, địch khủng hoảng đến cao độ. Căn cứ vào chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Thành uỷ nhận định: Thời cơ khởi nghĩa đã đến! Nhưng làm sao khởi nghĩa nhanh, bằng lực lượng nào, bằng phương thức gì trong khi chưa có lệnh của Trung ương? Điều gay cấn nhất là làm sao thắng được 1 vạn quân Nhật và hơn một nghìn lính bảo an và cảnh sát với đầy đủ vũ khí trong tay. Nếu thẳng thừng chiến đấu bằng vũ trang thì cho dù kẻ địch đã mất tinh thần, lực lượng non trẻ của cách mạng cũng rất khó giành chính quyền. Lúc này, toàn thành phố có 3 chi đội tự vệ chiến đấu, vũ khí thô sơ… Nếu Hà Nội chủ trương đánh Nhật thì buộc chúng phải đối phó, ta nhất định sẽ bị thiệt hại và tình hình có thể giằng co kéo dài chưa biết đến bao lâu, trong khi bọn Việt gian gấp rút chuẩn bị thành lập chính phủ nhằm làm đại diện hợp pháp cho Việt Nam để đón quân Đồng Minh (Anh- Tưởng) đang khẩn trương kéo vào để giải giáp quân đội Nhật...

Tối ngày 17/8, với trách nhiệm là Bí thư Thành uỷ, kiêm uỷ viên quân sự của Uỷ ban khởi nghĩa ông cấp tốc triệu tập hội nghị Thành uỷ mở rộng. Lúc đầu, tại cuộc họp, có ý kiến cho rằng, lực lượng quân sự của ta còn yếu nên chờ sự hỗ trợ của Trung ương. Nhưng phân tích kỹ lưỡng, Thành uỷ quyết định khởi nghĩa! Chậm là mất thời cơ… Và quyết định khởi nghĩa gấp vào ngày 19/8. Ngày 19/8, cở đỏ rợp trời Hà Nội theo các đoàn người từ mọi cửa ô rầm rập tiến về nội thành. Cuộc mít -tinh lớn diễn ra lúc 11 giờ tại Nhà hát Lớn với khoảng 20 vạn người và nhanh chóng chuyển thành cuộc biểu tình thị uy vang dội. Như kế hoạch đã định, quần chúng sau khi mít -tinh sẽ chia làm hai khối, dưới sự chỉ huy của các ông trong Uỷ ban quân sự, cùng tự vệ chiến đấu sẽ lần lượt chiếm những vị trí quan trọng. Đoàn đánh chiếm Phủ Khâm sai, Toà Thị chính, Sở Cảnh sát Hàng Trống do ông Nguyễn Khang phụ trách. Ông Nguyễn Quyết phụ trách đoàn chiếm trại Bảo An binh (nay là 43 Hàng Bài). Việc chiếm trại Bảo An binh tuy lúc đầu có gặp khó khăn nhưng sau đó cũng đã giành thắng lợi. Đến chiều tối thì hầu hết các cơ quan đầu não của chính quyền bù nhìn thân Nhật đã lọt vào tay quần chúng cách mạng...

Tháng 9 năm 1945, ông là Ủy viên Chính trị Ủy ban Quân sự Hà Nội. Sau khi nước nhà giành được độc lập không lâu, một tuần sau, quân Pháp núp bóng quân Anh đổ quân vào miền Nam hòng chiếm nước ta một lần nữa. Nhân dân Nam Bộ đã anh dũng đứng lên chiến đấu. Rời bỏ cương vị Bí thư thành ủy Hà Nội ông lên đường Nam tiến chi viện cho chiến trường Nam Trung Bộ (1/1946). Từ tháng 1 năm 1946 đến tháng 1 năm 1947, ông lần lượt giữ các chức vụ: Chính trị viên Chi đội 2, Chi đội 1 rồi Đại đoàn 31 - Chủ lực của Ủy ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam. Từ tháng 1 năm 1947 đến tháng 5 năm 1948, ông là: Liên khu Ủy viên Liên khu 5, Chính ủy Mặt trận Quảng Nam Đà Nẵng, Ủy viên Quân sự trong Ủy ban Kháng chiến Liên tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Từ tháng 6 năm 1948 đến tháng 5 năm 1951, ông là Chính uỷ Trung đoàn 108, Trung đoàn 803. Từ tháng 6 năm 1951 đến tháng 6 năm 1952, ông ra Bắc, lên Chiến khu Việt Bắc theo học lớp nghiên cứu ở Tổng cục Chính trị. Từ năm 1953 đến năm 1954, trở về chiến trường, ông tiếp tục là Quân khu uỷ viên, là Trưởng phòng Chính trị Quân khu 5 rồi Liên khu uỷ viên dự khuyết Liên khu 5.

Sau hiệp định Geneva, ông tập kết ra Bắc, lần lượt là Chính uỷ Sư đoàn 305 (12.1954), quyền Chính uỷ, Chính uỷ Quân khu Tả Ngạn, Bí thư Quân khu uỷ (11.1953 - 1963); Phó Chính ủy rồi Chính ủy kiêm Phó Bí thư Quân khu ủy Quân khu 3 (1964 - 1967); Chính uỷ B8, Bí thư Đảng uỷ B8, Phó chính uỷ Quân khu Trị Thiên, Uỷ viên thường vụ Khu uỷ Trị Thiên (1968); Chính uỷ Quân khu Tả Ngạn, Bí thư Quân khu uỷ, Chính uỷ Học viện Quân sự, Bí thư Đảng uỷ Học viện (1969 - 1976).

Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, từ năm 1976 đến năm 1986, ông được cử giữ chức vụ Tư lệnh, Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy Quân khu 3. Thời kì này, quân khu 3 nổi tiếng toàn quốc bởi phong trào ''làm giàu đánh thắng'' được đề xướng bởi ông. Khi ấy, đất nước ta vừa ra khỏi chiến tranh, bị tàn phá nặng nề, cuộc sống của người dân còn muôn vàn khó khăn. Quân khu 3 (gồm 10 tỉnh, thành phố) lúc ấy vừa là tiền tuyến vừa là hậu phương. Một mặt phải chuẩn bị một thế trận vững chắc sẵn sàng đánh bại mọi cuộc xâm lược của kẻ địch. Mặt khác phải tích cực làm kinh tế, tạo cơ sở vật chất kỹ thuật cho quân khu.

Trên cơ sở phán đoán tình hình, với cương vị Tư lệnh quân khu, ông đề nghị phát động phong trào lấy tên là “Làm giàu đánh thắng” đồng thời làm 2 nhiệm vụ trọng tâm: sẵn sàng chiến đấu, chi viện, vừa đưa bộ đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, nhằm tháo gỡ khó khăn cho mình góp phần lo cái lo chung của đất nước, được Bộ tư lệnh quân khu thông qua, ra nghị quyết. Đây vừa là khẩu hiệu vừa là phương châm hành động của toàn quân khu. Chẳng hạn, để cải thiện thế trận phong thủ của quân khu tại các tỉnh ven biển, bộ đội đã cùng nhân dân lấn biển, hình thành nhiều điểm dân cư mới, nhiều cơ sở sản xuất mới. Điều này không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn có ý nghĩa không nhỏ về quốc phòng. Đưa bộ đội tham gia xây dựng công trình trọng điểm cả nước lúc ấy là nhà máy nhiệt điện Phả Lại… Kinh nghiệm ở quân khu 3, cũng được vận dụng vào các đảo nổi, đảo chìm. Ví như ở các tuyến đảo hầu như quanh năm không có rau ăn, rau từ đất liền khan hiếm. Từ khi thực hiện hình thức làm kinh tế đơn vị, ta đưa đất từ đất liền cho vào hộp gỗ để trồng các loại rau. Nhờ đó, bộ đội trên đảo bữa cơm có thêm rau xanh đỡ xót ruột…

Phong trào “Làm giàu đánh thắng” đã được nhân dân nhiệt tình hưởng ứng, được cấp uỷ và chính quyền các địa phương trong quân khu đồng tình và phối hợp chỉ đạo, mang lại kết quả thiết thực và toàn diện về mọi mặt. Ông Trịnh Minh, Phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Nam Ninh khẳng định trong hội nghị Quân khu uỷ năm 1983: “Tỉnh chúng tôi cũng như các tỉnh bạn trong quân khu đều tổ chức và thực hiện nghị quyết nổi tiếng “Làm giàu đánh thắng” để phát triển kinh tế kết hợp với quốc phòng”.

Rời quân khu 3, ông lần lượt được giao phó các chức vụ: Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (4/1986 – 11/1987); Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Uỷ viên Đảng uỷ Quân sự Trung ương (1987 - 1991); Uỷ viên Thường vụ Đảng uỷ Quân sự Trung ương (1977 - 1991). Đại tướng Nguyễn Quyết là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá IV, V, VI; Bí thư Trung ương Đảng khoá VI; Đại biểu Quốc hội khoá IV, V, VI; Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước khoá V.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn