Đại tướng Phạm Văn Trà
Ởtuổi 91, Đại tướng Phạm Văn Trà - nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng - vẫn nhớ rõ từng câu chuyện trong hành trình dài ông trực tiếp cầm súng chiến đấu trong kháng chiến chống Mỹ trải qua những vị trí công tác từ chiến sĩ liên lạc, tổ trưởng 3 người cho đến cán bộ cấp sư đoàn, quân khu, rồi Tổng Tham mưu trưởng... Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất đất nước, ông đã dành cho Báo Nhân Dân cuộc trò chuyện chung quanh sự kiện lịch sử này.
Đại tướng Phạm Văn Trà chia sẻ: Năm 1949, khi tôi 14 tuổi, chiến tranh đã lan đến quê hương tôi. Giặc Pháp thường xuyên càn quét. Tôi không thể quên một ngày của năm 1952, trong một trận càn cha tôi bị gãy chân, chú tôi bị bắn chết. Một năm sau, giặc lại xông vào nhà, cha tôi gãy chân không thể chạy được, bị giặc bắn chết. Lúc đó, tôi đang là du kích nghe tin chạy về ôm lấy thi thể cha còn ấm nóng. Tôi cố kìm nước mắt, trong lòng trào dâng căm thù. 17 tuổi, vốn thấp bé nhẹ cân, tôi bỏ đá vào quần, khai thêm một tuổi để đủ điều kiện đi bộ đội trả thù nhà nợ nước. Tôi vào bộ đội, tham gia trung đoàn của liên khu Việt Bắc đánh vào vùng địch ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương… Năm 1963, chúng tôi được cấp trên gọi vào miền nam. Sau 7 tháng hành quân, chúng tôi đến miền Tây Nam Bộ. Tôi trở thành một trong những người chỉ huy của lực lượng đầu tiên tiếp viện cho chiến trường U Minh, bắt đầu quá trình bám trụ chiến đấu ở vùng sông nước miền Tây đầy gian khó, nguy hiểm.
Ngày 30/4/1975, khi nhận tin chiến thắng cảm xúc vỡ òa, tôi lúc ấy là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 U Minh vui mừng đến phát khóc, nghẹn ngào không thốt nên lời. Trung đoàn chúng tôi, chủ yếu là anh em từ miền bắc, những người lính xa quê mười mấy năm, luôn mang trong tim nỗi khát khao cháy bỏng: Hòa bình, đoàn tụ, bắc-nam sum họp một nhà.
Nhưng chiến thắng nào cũng phải trả giá. Ngày chúng tôi lên đường vào nam, đơn vị có 160 người, đến ngày 30/4 chỉ còn lại 16 người. Sự mất mát quá lớn, những đồng đội đã ngã xuống mãi mãi không thể trở về.
Giây phút đó, tôi thấm thía hơn bao giờ hết câu thơ của Bác Hồ, vừa mang tầm nhìn chiến lược, vừa là lời hịch non sông: Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào. Chúng ta đã đi đến thắng lợi bằng sự kiên trì, bằng quyết tâm nắm bắt thời cơ, bằng những quyết định táo bạo nhưng chính xác. Và trên hết, là nhờ sức mạnh bách chiến bách thắng của quân đội nhân dân Việt Nam - một đội quân sinh ra từ nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu.



