Anh hùng Lực lượng vũ trang

Đại tướng Phạm Văn Trà – vị tướng trận mạc và dấu ấn người lính thời bình

Đại tướng Phạm Văn Trà là vị tướng trưởng thành từ chiến sĩ thông tin, trải qua nhiều chiến trường ác liệt, từng giữ các cương vị Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Cuộc đời ông là tấm gương tiêu biểu về bản lĩnh trận mạc, tinh thần tận tụy trong xây dựng quân đội thời bình và nghĩa tình sâu nặng với đồng đội, quê hương, nhân dân.

Lâm Đồng13/06/2026Nguyễn Phú Hoài (Trường Đại học Yersin Đà Lạt)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đại tướng Phạm Văn Trà – vị tướng trận mạc và dấu ấn người lính thời bình

Trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tướng Phạm Văn Trà là một trong những vị tướng tiêu biểu trưởng thành từ thực tiễn chiến đấu ác liệt, đi lên từ người lính trực tiếp nơi chiến trường đến những cương vị lãnh đạo cao nhất của quân đội. Ông nổi tiếng là vị tướng dạn dày trận mạc, gan góc, thông minh, quyết đoán, từng để lại dấu ấn qua những trận đánh bất ngờ, táo bạo, làm kẻ thù khiếp sợ. Hơn nửa thế kỷ phục vụ quân đội, ông trải qua nhiều vị trí công tác, từ chiến sĩ liên lạc, tổ trưởng ba người, cán bộ trung đoàn, sư đoàn, quân khu, đến Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng rồi Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Đại tướng Phạm Văn Trà sinh ngày 19 tháng 8 năm 1935 tại xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, một vùng quê giàu truyền thống văn hóa và cách mạng. Sinh ra trong thời kỳ đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh, ông sớm được hun đúc tinh thần yêu nước, ý chí quật cường và khát vọng cống hiến cho Tổ quốc. Năm 1953, khi mới 18 tuổi, ông tham gia Quân đội nhân dân Việt Nam, bắt đầu cuộc đời binh nghiệp bằng nhiệm vụ của một chiến sĩ thông tin. Đây là công việc đòi hỏi sự nhanh nhẹn, gan dạ, chính xác và tinh thần trách nhiệm cao, bởi thông tin liên lạc trong chiến tranh có ý nghĩa sống còn đối với chỉ huy và chiến đấu.

Ngày 24 tháng 5 năm 1956, Phạm Văn Trà được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Dấu mốc này khẳng định sự trưởng thành về lý tưởng cách mạng của người chiến sĩ trẻ, đồng thời mở ra chặng đường phấn đấu lâu dài trong quân đội. Từ những ngày đầu quân ngũ, ông đã thể hiện bản lĩnh của một người lính không ngại gian khổ, sẵn sàng nhận nhiệm vụ khó khăn, luôn đặt lợi ích của đơn vị, của cách mạng và của nhân dân lên trên hết.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Phạm Văn Trà là một trong những người chỉ huy thuộc lực lượng đầu tiên tiếp viện cho chiến trường U Minh vào năm 1964. Từ đó cho đến khi chiến tranh kết thúc, ông chủ yếu hoạt động ở chiến trường miền Tây Nam Bộ, một địa bàn sông nước phức tạp, ác liệt và đầy thử thách. Chiến trường này không chỉ đòi hỏi lòng dũng cảm mà còn cần sự linh hoạt, mưu trí, khả năng bám dân, bám đất, tổ chức lực lượng và vận dụng cách đánh phù hợp với địa hình.

Trong suốt nhiều năm bám trụ ở miền Tây Nam Bộ, đồng chí Phạm Văn Trà đã trực tiếp trải qua những năm tháng chiến đấu gian khổ cùng Trung đoàn 1 U Minh. Đây là môi trường chiến đấu đặc biệt, nơi người lính phải đối mặt với bom đạn, đầm lầy, sông rạch, thiếu thốn vật chất, bệnh tật và những cuộc càn quét liên tục của địch. Chính từ thực tiễn ấy, tài thao lược, bản lĩnh gan góc và sự nhạy bén trong chỉ huy của ông ngày càng được bộc lộ rõ. Ông không chỉ là người chỉ huy biết đánh, mà còn là người biết tổ chức, biết dựa vào dân, biết giữ vững tinh thần bộ đội trong những thời điểm khó khăn nhất.

Năm 1973, Phạm Văn Trà giữ chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1, Quân khu 9. Đây là cương vị quan trọng trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, khi cục diện chiến trường đang chuyển biến mạnh mẽ. Với kinh nghiệm trận mạc và sự sâu sát thực tiễn, ông cùng cán bộ, chiến sĩ đơn vị tiếp tục chiến đấu, góp phần vào thắng lợi chung của quân và dân miền Nam, tiến tới ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, thống nhất vào mùa xuân năm 1975.

Sau ngày thống nhất đất nước, đồng chí Phạm Văn Trà tiếp tục được giao nhiều nhiệm vụ quan trọng trong quân đội. Từ tháng 12 năm 1975 đến năm 1977, ông lần lượt giữ chức Tham mưu trưởng Sư đoàn 4, Phó sư đoàn trưởng kiêm Tham mưu trưởng Sư đoàn 330, Quân khu 9. Đây là thời kỳ quân đội vừa thực hiện nhiệm vụ bảo vệ thành quả cách mạng, vừa củng cố tổ chức lực lượng sau chiến tranh, chuẩn bị đối phó với những thách thức mới ở biên giới Tây Nam.

Năm 1978, ông học tại Học viện Quân sự cấp cao. Việc học tập, bồi dưỡng lý luận và nghệ thuật quân sự ở cấp cao giúp ông hệ thống hóa những kinh nghiệm thực tiễn đã được tôi luyện trong chiến tranh, đồng thời nâng cao năng lực chỉ huy ở quy mô lớn hơn. Năm 1980, ông giữ chức Sư đoàn trưởng Sư đoàn 330, Quân khu 9, trực tiếp chỉ huy sư đoàn làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia.

Trong gần 10 năm cùng lực lượng vũ trang Quân khu 9 làm nhiệm vụ quốc tế trên đất nước Chùa Tháp, Phạm Văn Trà và đồng đội đã góp phần giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng Khmer Đỏ. Đây là nhiệm vụ quốc tế cao cả, thể hiện tinh thần trong sáng, nghĩa tình và trách nhiệm của Quân đội nhân dân Việt Nam đối với nhân dân nước bạn. Trên chiến trường mới, ông tiếp tục thể hiện bản lĩnh của người chỉ huy từng trải, vừa kiên quyết trong chiến đấu, vừa nhân văn trong thực hiện nhiệm vụ giúp bạn.

Tháng 3 năm 1983, đồng chí Phạm Văn Trà giữ chức Phó tư lệnh Mặt trận 979. Từ năm 1985 đến năm 1988, ông là Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 9. Tháng 6 năm 1988, ông được điều động giữ chức Phó tư lệnh Quân khu 3, rồi từ năm 1989 đến năm 1993 là Tư lệnh Quân khu 3. Việc đảm nhiệm các cương vị chỉ huy ở những địa bàn chiến lược khác nhau cho thấy năng lực toàn diện của ông trong tổ chức lực lượng, xây dựng khu vực phòng thủ và lãnh đạo nhiệm vụ quân sự - quốc phòng trong thời bình.

Trên cương vị Tư lệnh Quân khu 3, Đại tướng Phạm Văn Trà để lại dấu ấn quan trọng với mô hình “quân dân y kết hợp”. Đây là mô hình có ý nghĩa thiết thực, gắn nhiệm vụ quốc phòng với chăm sóc sức khỏe nhân dân, kết hợp sức mạnh của quân y và dân y, nhất là ở những địa bàn khó khăn. Sau này, mô hình được nhân rộng trong toàn quân và trở thành chương trình cấp quốc gia về kết hợp quân - dân y, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và phục vụ sức khỏe nhân dân. Dấu ấn này cho thấy tầm nhìn của ông không chỉ giới hạn trong lĩnh vực quân sự thuần túy, mà còn hướng đến việc gắn quân đội với nhân dân, lấy dân làm gốc, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc.

Tháng 12 năm 1993, đồng chí Phạm Văn Trà giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Đến tháng 12 năm 1995, ông được bổ nhiệm làm Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Đây là bước chuyển quan trọng trong cuộc đời binh nghiệp của ông, từ chỉ huy chiến trường, quân khu đến tham mưu chiến lược cấp toàn quân. Trên cương vị này, ông cùng tập thể lãnh đạo Bộ Quốc phòng tham mưu cho Đảng, Nhà nước về xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng và nâng cao sức mạnh bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Từ tháng 10 năm 1997 đến tháng 6 năm 2006, Đại tướng Phạm Văn Trà là Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, nay là Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Đây là giai đoạn đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh đổi mới, hội nhập và xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong bối cảnh thế giới, khu vực có nhiều biến động. Trên cương vị người đứng đầu Bộ Quốc phòng, ông đã cùng tập thể Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tập trung điều chỉnh tổ chức lực lượng, bố trí chiến lược toàn quân, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Một trong những dấu ấn lớn của Đại tướng Phạm Văn Trà khi giữ cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là sự quan tâm sâu sát đến quy hoạch, xây dựng doanh trại và cơ sở làm việc của các cơ quan, đơn vị trong toàn quân. Ông coi đây là một cuộc “đại cách mạng” về doanh trại của Quân đội ta. Từ nhận thức rằng nơi ăn, ở, làm việc, huấn luyện của bộ đội ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng xây dựng đơn vị, ông chỉ đạo đẩy mạnh quy hoạch tổng thể, xây dựng mới, nâng cấp doanh trại, tạo diện mạo chính quy, bền vững hơn cho quân đội trong thời bình.

Trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, một trong những công trình quy mô lớn được hoàn thành trong thời gian ông giữ cương vị Bộ trưởng là trụ sở Bộ Quốc phòng. Bên cạnh đó, dấu ấn của ông còn thể hiện qua nhiều công trình trọng điểm và mô hình có ý nghĩa chiến lược như đường tuần tra biên giới, xây dựng các đoàn kinh tế - quốc phòng, phát triển doanh nghiệp quân đội xứng tầm quốc gia và từng bước vươn ra quốc tế. Những chủ trương này vừa phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, vừa góp phần phát triển kinh tế - xã hội, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, địa bàn chiến lược.

Đại tướng Phạm Văn Trà là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khóa VII, VIII, IX; Ủy viên Bộ Chính trị khóa VIII, IX; đại biểu Quốc hội các khóa IX, X, XI. Trên các cương vị lãnh đạo cấp cao, ông luôn thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thần tổ chức kỷ luật, sự thẳng thắn, gần gũi, sâu sát cơ sở và tôn trọng trí tuệ tập thể. Ông được đánh giá là người chỉ huy có phong cách quyết đoán nhưng chân thành, nghiêm khắc trong công việc nhưng nặng nghĩa tình với đồng đội, cán bộ, chiến sĩ và nhân dân.

Sau khi nghỉ hưu, Đại tướng Phạm Văn Trà vẫn tiếp tục tích cực tham gia nhiều hoạt động xã hội, từ thiện và tri ân đồng đội. Ông dành tiền cá nhân, đồng thời huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng các công trình có ý nghĩa, trong đó có những ngôi chùa mang tinh thần “hộ quốc, an dân” tại nhiều địa phương. Với ông, những công trình ấy không chỉ có ý nghĩa văn hóa, tâm linh, mà còn góp phần giáo dưỡng lòng dân, khơi dậy ý thức tự hào, tự tôn dân tộc và tinh thần trách nhiệm trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước.

Đặc biệt, Đại tướng Phạm Văn Trà luôn dành nhiều tình cảm cho đồng đội cũ, nhất là những người có hoàn cảnh khó khăn. Khi có thời gian, ông đi thăm đồng đội, vận động nguồn lực để hỗ trợ cựu chiến binh nghèo, gia đình chính sách và người có công. Ông đã góp phần vận động, tổ chức xây dựng hàng trăm căn nhà từ thiện tặng đồng đội nghèo. Đối với nhiều gia đình có công với cách mạng còn khó khăn, ông kêu gọi các mạnh thường quân hỗ trợ tiền, mua ruộng, tặng nhà, giúp họ ổn định cuộc sống.

Với quê hương Bắc Ninh, Đại tướng Phạm Văn Trà cũng dành nhiều tâm huyết. Ông khởi xướng quỹ khuyến học, khuyến tài của tỉnh với số tiền lớn, trong đó cá nhân ông ủng hộ một phần đáng kể. Ông cũng góp công sức, tiền của xây dựng nhiều công trình có ý nghĩa cho quê hương. Những việc làm ấy cho thấy ở ông không chỉ có phẩm chất của một vị tướng trận mạc, mà còn có tấm lòng của người con quê hương luôn đau đáu với giáo dục, nhân nghĩa và sự phát triển bền vững của cộng đồng.

Với những công lao và thành tích xuất sắc, Đại tướng Phạm Văn Trà được Đảng, Nhà nước tặng thưởng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhì, hạng Ba và nhiều phần thưởng cao quý khác. Ông cũng được Đảng và Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trao tặng Huân chương Issara hạng Nhất; được trao Huy hiệu 50 năm, 55 năm, 60 năm và 65 năm tuổi Đảng. Những phần thưởng ấy là sự ghi nhận xứng đáng đối với quá trình cống hiến lâu dài, bền bỉ của ông cho Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân.

Nhìn lại cuộc đời binh nghiệp của Đại tướng Phạm Văn Trà, có thể thấy nổi bật lên hình ảnh một người lính trưởng thành từ chiến tranh, một vị chỉ huy đã đi qua nhiều chiến trường, một nhà lãnh đạo quốc phòng có tầm nhìn thực tiễn và một con người sống nặng nghĩa tình. Từ quê hương Kinh Bắc đến chiến trường U Minh, từ nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia đến những trọng trách cấp cao trong Bộ Quốc phòng, ông luôn giữ vững phẩm chất người đảng viên cộng sản, người cán bộ quân đội tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân.

Điều làm nên giá trị đặc biệt trong hình ảnh Đại tướng Phạm Văn Trà không chỉ là các chức vụ ông từng đảm nhiệm, mà còn là hành trình cống hiến liên tục, bền bỉ và trọn vẹn. Trong chiến tranh, ông là người chỉ huy gan góc, mưu trí, dám đánh, biết đánh và biết chiến thắng. Trong thời bình, ông là người lãnh đạo chú trọng xây dựng nền nếp chính quy, chăm lo đời sống bộ đội, kết hợp quốc phòng với kinh tế, quân đội với nhân dân. Khi nghỉ hưu, ông vẫn tiếp tục sống vì đồng đội, vì quê hương, vì những giá trị nhân nghĩa mà người lính Bộ đội Cụ Hồ luôn gìn giữ.

Đại tướng Phạm Văn Trà là tấm gương tiêu biểu về bản lĩnh, trí tuệ, lòng trung thành và nghĩa tình của người lính Việt Nam. Cuộc đời ông cho thấy một người chiến sĩ có thể đi qua chiến tranh bằng lòng dũng cảm, đi qua trọng trách bằng tinh thần kỷ luật, và đi qua đời thường bằng tấm lòng nhân hậu. Nhắc đến ông là nhắc đến hình ảnh một vị tướng trận mạc, một nhà lãnh đạo quốc phòng tận tụy và một con người luôn sống trọn nghĩa với Đảng, với dân, với quân đội, với đồng đội và quê hương.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn