Đại tướng Văn Tiến Dũng – Người thợ dệt thành danh vị tướng huyền thoại của Đại thắng mùa Xuân
rong căn phòng mật của Tổng hành dinh Quân đội Nhân dân Việt Nam những ngày đầu năm 1975, không khí căng thẳng đến nghẹt thở. Trên tấm bản đồ quân sự cỡ lớn phủ kín bức tường, các mũi tên đỏ hướng về phía dải đất miền Trung và miền Nam ruột thịt. Giữa những cái đầu lạnh đang cân não cho canh bạc quyết định của lịch sử dân tộc, có một người đàn ông với ánh mắt kiên định, vầng trán cao và tác phong điềm đạm nhưng vô cùng quyết đoán. Đó chính là Đại tướng Văn Tiến Dũng – người được Bộ Chính trị và Đại tướng Võ Nguyên Giáp chọn mặt gửi vàng, trao chiếc gậy chỉ huy cao nhất để tiến về giải phóng Sài Gòn.Ít ai biết rằng, vị Đại tướng lẫy lừng, người sở hữu kỷ lục là vị Tổng Tham mưu trưởng tại vị lâu nhất lịch sử quân đội Việt Nam (21 năm), lại có xuất thân vô cùng giản dị. Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo tại Hà Nội, thời thanh niên, ông là một người thợ dệt bình thường tại nhà máy dệt Cự Chung. Chính dòng máu yêu nước và sự giác ngộ cách mạng trong phong trào công nhân đã rèn đúc nên một người chiến sĩ kiên cường. Vượt qua ba lần bị thực dân Pháp bắt giam, tù đày, ông vượt ngục và trưởng thành vượt bậc qua khói lửa của các chiến dịch. Sự tài ba của ông lớn lên từ thực tế chiến trường đến mức vào năm 1959, ông là một trong số rất ít tướng lĩnh được phong thẳng quân hàm Đại tướng mà không cần qua bất kỳ cấp tướng trung gian nào.Dấu ấn lớn nhất, đỉnh cao trong sự nghiệp quân sự của Đại tướng Văn Tiến Dũng gắn liền với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Tháng 2 năm 1975, mật danh "Lê Hoài" xuất hiện tại chiến trường Tây Nguyên. Ông bí mật rời Hà Nội, trực tiếp vào tận tiền tuyến để chỉ huy trận đánh mở màn. Tại đây, thiên tài quân sự của ông đã phát huy rực rỡ qua nghệ thuật nghi binh đỉnh cao. Ông điều động các đơn vị lớn di chuyển đánh lạc hướng địch ở Pleiku và Kon Tum, khiến tướng lĩnh Sài Gòn dồn toàn lực về hướng đó phòng thủ. Nhưng bất ngờ, Đại tướng ra lệnh cho các cánh quân chủ lực giáng đòn "điểm huyệt" chí mạng vào Buôn Ma Thuột – nơi phòng thủ lỏng lẻo nhất của địch. Trận đánh diễn ra chớp nhoáng, bẻ gãy toàn bộ hệ thống phòng thủ của quân đội Sài Gòn, tạo ra phản ứng dây chuyền khiến đối phương hoảng loạn, tháo chạy trên khắp chiến trường miền Trung.Thừa thắng xông lên, tháng 4 năm 1975, Bộ Chính trị thành lập Bộ Chỉ huy Chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định, chính thức lấy tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh, và giao cho Đại tướng Văn Tiến Dũng làm Tư lệnh. Nhận trọng trách lịch sử trước vận mệnh quốc gia, ông đã phối hợp hiệp đồng chỉ huy xuất sắc 5 cánh quân từ các hướng: Bắc, Đông Bắc, Đông, Tây Nam và Tây cùng lúc thần tốc tiến công. Dưới sự điều hành nhịp nhàng của vị Tư lệnh, các cánh quân như những gọng kìm thép xuyên thủng các tuyến phòng thủ từ xa, đập tan mọi nỗ lực kháng cự cuối cùng.Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, chiếc xe tăng mang số hiệu 843 và 390 húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập. Lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc dinh, đánh dấu thời khắc Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Tại Tổng hành dinh chiến dịch, Đại tướng Văn Tiến Dũng khép lại cuốn sổ tay tác chiến. Cuộc chiến tranh trường kỳ chính thức kết thúc, non sông thu về một mối.Sau ngày hòa bình, ông tiếp tục cống hiến trên cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, lãnh đạo quân đội bảo vệ vững chắc biên giới Tổ quốc. Những ngày tháng cuối đời, ông chắp bút viết nên cuốn hồi ký "Đại thắng mùa Xuân", để lại cho thế hệ mai sau một pho sử liệu sống động, chân thực về ý chí, trí tuệ và khát vọng hòa bình độc lập của con người Việt Nam. Đại tướng Văn Tiến Dũng qua đời năm 2002, nhưng tên tuổi và những chiến công xuất sắc của người thợ dệt năm xưa sẽ mãi mãi khắc sâu vào lịch sử hào hùng của dân tộc như một biểu tượng của lòng dũng cảm và tài thao lược đỉnh cao.


