ĐẠI TƯỚNG VĂN TIẾN DŨNG: NHÀ CHỈ HUY THAM MƯU CHIẾN LƯỢC XUẤT SẮC
Lê Văn Quản
1. Thân thế và Thời niên thiếu
Đại tướng Văn Tiến Dũng (bí danh Lê Hoài) sinh ngày 02/5/1917 tại xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm (nay thuộc phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm), thành phố Hà Nội. Ông sinh ra trong một gia đình công nhân nghèo, mồ côi mẹ từ năm 8 tuổi và mồ côi cha khi mới 15 tuổi. Tuổi thơ tuy cơ cực nhưng Văn Tiến Dũng rất ham học và thích đọc sách báo. Những câu chuyện về tinh thần yêu nước của các vị tiền bối như Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật qua lời kể của người cha, cùng sự bất công của chính quyền thực dân đối với đồng bào mà ông tự tìm đọc đã sớm hun đúc tinh thần yêu nước mãnh liệt. Ông bước vào đời tự lập bằng công việc của một người thợ dệt làm thuê tại Hà Nội.
2. Hoạt động cách mạng trước năm 1945
Năm 19 tuổi (1936), ông sớm giác ngộ cách mạng và tham gia hoạt động hăng hái trong Phong trào Dân chủ do Đảng Cộng sản Đông Dương phát động. Ông đã trực tiếp tham gia tuyên truyền, vận động và tổ chức cuộc bãi công của công nhân xưởng dệt Cự Chung ở Hà Nội. Tháng 11/1937, ông vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Đến năm 1938, ông trở thành Bí thư Chi bộ ngành thợ dệt Hà Nội.
Trong giai đoạn gian khổ từ năm 1939 đến năm 1945, ông đã 3 lần bị thực dân Pháp bắt giam nhưng luôn giữ vững khí tiết kiên trung của người cộng sản:
Lần thứ nhất (tháng 7/1939): Bị bắt giam nhưng do không đủ chứng cứ buộc tội, địch phải trả tự do cho ông sau 3 ngày.
Lần thứ hai (cuối tháng 9/1939): Bị bắt và kết án 2 năm tù giam. Đến tháng 9/1941, trên đường bị áp giải từ Nhà tù Sơn La về Hà Nội để đưa vào trại tập trung, ông đã mưu trí trốn thoát thành công để tiếp tục hoạt động.
Lần thứ ba (tháng 8/1944): Ông bị địch bắt lần nữa nhưng tiếp tục vượt ngục thành công vào tháng 12/1944. Ngày 12/1/1945, chính quyền thực dân Pháp đã kết án tử hình vắng mặt ông tại tòa án tỉnh Bắc Ninh.
Sau khi bắt liên lạc lại với tổ chức, từ năm 1942 đến 1945, ông liên tục đảm nhiệm các chức vụ then chốt như Bí thư Ban Cán sự Đảng tỉnh Hà Đông, Bí thư Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh và Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ. Tháng 4/1945, ông được phân công làm Ủy viên Ủy ban Quân sự Cách mạng Bắc Kỳ, phụ trách việc tổ chức và làm Bí thư Khu ủy Chiến khu Quang Trung (gồm các tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa). Tháng 8/1945, ông trực tiếp chỉ đạo khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền thắng lợi ở các tỉnh này.
3. Hoạt động trong Kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954)
Từ cuối năm 1945 đến năm 1949, ông là Ủy viên Quân ủy Trung ương, trực tiếp chỉ đạo chiến đấu chống Pháp tại khu "Nam Tiến" và vùng biên giới Việt - Lào. Ông giữ chức Phó bí thư Quân ủy Trung ương kiêm Cục trưởng Cục Chính trị từ tháng 2/1947 đến tháng 10/1949. Năm 1948, ông được phong quân hàm Thiếu tướng khi mới 31 tuổi.
Từ năm 1951 đến 1953, Thiếu tướng Văn Tiến Dũng làm Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy đầu tiên của Đại đoàn 320 (Đại đoàn Đồng Bằng) hoạt động ngay trong vùng địch hậu Bắc Bộ. Tại đây, ông đã phát triển tài năng chỉ huy quân sự xuất sắc và sáng tạo ra cách đánh "nở hoa trong lòng địch" – luồn sâu, thọc hiểm, tấn công bất ngờ vào các cứ điểm sào huyệt từ bên trong của địch, tiêu biểu là các trận đánh tại Sơn Tây (tháng 1/1951) và Phát Diệm (tháng 12/1951).
Tháng 11/1953, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Trên cương vị này, ông đã có những đóng góp to lớn trong công tác tham mưu chiến lược, trực tiếp chỉ đạo chuẩn bị và giành chiến thắng quyết định trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ. Tháng 7/1954, ông làm Trưởng đoàn đại diện Bộ Tổng tư lệnh tại Hội nghị Trung Giã nhằm đàm phán đình chiến.
4. Hoạt động trong Kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975)
Đồng chí Văn Tiến Dũng được thăng vượt cấp lên quân hàm Thượng tướng vào năm 1959 và thăng quân hàm Đại tướng vào tháng 4/1974.
Trên cương vị Tổng Tham mưu trưởng, ông cùng Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp tổ chức huấn luyện, bảo đảm hậu cần và chỉ đạo xây dựng lực lượng phòng không - không quân, hải quân làm nòng cốt đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ ở miền Bắc.
Đối với chiến trường miền Nam, ông trực tiếp chỉ huy nhiều chiến dịch chiến lược làm xoay chuyển cục diện chiến tranh:
Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971): Đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 của quân đội Sài Gòn có Mỹ yểm trợ.
Chiến dịch Trị - Thiên (1972): Đập tan hệ thống phòng ngự kiên cố của địch, giải phóng Quảng Trị.
Chiến dịch Tây Nguyên (tháng 3/1975): Trên cương vị đại diện Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp tại mặt trận (Đoàn A75), ông đã chỉ đạo một kế hoạch nghi binh xuất sắc, thu hút lực lượng địch về phía Bắc để ta bí mật bao vây trận quyết chiến then chốt tại Buôn Ma Thuột. Ông tỉnh táo hạ lệnh giữ bí mật tuyệt đối về sự xuất hiện của các sư đoàn chủ lực trước giờ nổ súng. Khi phát hiện địch rút chạy, ông nhanh chóng đưa ra quyết định chớp thời cơ táo bạo, ra mệnh lệnh truy kích tập đoàn quân địch tháo chạy trên Liên tỉnh lộ số 7 vào ngày 16/3, giải phóng hoàn toàn vùng Tây Nguyên.
Chiến dịch Hồ Chí Minh (tháng 4/1975): Trên cương vị Tư lệnh Chiến dịch, ông cùng tập thể chỉ huy hoàn thiện kế hoạch tác chiến thần tốc. Ông trực tiếp phê duyệt bản đồ chiến dịch và chỉ huy năm cánh quân hiệp đồng tác chiến, thọc sâu đánh chiếm năm mục tiêu đầu não trọng yếu tại Sài Gòn, buộc tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng không điều kiện vào trưa ngày 30/4/1975, hoàn thành thắng lợi sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
5. Hoạt động sau năm 1975, Đóng góp Lý luận và Phong cách Sống
Sau khi đất nước hòa bình, ông tiếp tục giữ chức vụ Tổng Tham mưu trưởng đến tháng 5/1978. Từ tháng 2/1980 đến năm 1986, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Ông là Ủy viên Bộ Chính trị các khóa IV, V và là Đại biểu Quốc hội liên tục từ khóa II đến khóa VII.
Từ năm 1987 đến khi qua đời, ông đảm nhiệm vai trò Ủy viên Thường trực Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh và biên soạn lịch sử quân sự trực thuộc Bộ Chính trị. Ông là tác giả của cuốn hồi ký lịch sử quân sự nổi tiếng "Đại thắng mùa xuân" xuất bản lần đầu vào tháng 5/1976, một tài liệu quý giá phục vụ công tác nghiên cứu khoa học nghệ thuật quân sự.
Đại tướng Văn Tiến Dũng được đồng chí và cấp dưới vô cùng kính trọng bởi tác phong làm việc nghiêm túc, chuẩn mực, luôn đúng giờ và hết sức dân chủ. Ông có lối sống giản dị, tiết kiệm, luôn quan tâm sâu sắc tới đời sống của cán bộ chiến sĩ và thường xuyên tri ân những gia đình có công nuôi giấu, bảo vệ cách mạng. Đặc biệt, ông đã tích lũy và lưu giữ bộ Nhật ký công tác gồm 51 cuốn ghi chép tỉ mỉ, khách quan diễn biến lịch sử từ năm 1946 đến năm 2002.
Đại tướng Văn Tiến Dũng qua đời ngày 17/3/2002 tại Hà Nội sau một cơn bạo bệnh, hưởng thọ 85 tuổi.
6. Các Huân chương và Phần thưởng cao quý
Nhờ những cống hiến đặc biệt xuất sắc cho sự nghiệp giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, Đại tướng Văn Tiến Dũng đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam cùng bạn bè quốc tế vinh danh bằng nhiều huân chương cao quý:
Huân chương Sao vàng (1995).
Huân chương Hồ Chí Minh (1979).
Huân chương Quân công (hạng Nhất, hạng Nhì).
Huân chương Tự do hạng Nhất do Nhà nước Lào trao tặng.
Huân chương Angkor do Nhà nước Campuchia trao tặng.
7. Các nguồn truy xuất
General Văn Tiến Dũng: mastermind behind the Hồ Chí Minh Campaign – Báo Việt Nam News.
Giá trị quân sự trong tác phẩm "Đại thắng mùa xuân" của Đại tướng Văn Tiến Dũng – Báo Quân đội nhân dân.
Quyển sách “Văn Tiến Dũng – Tiểu sử” – Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh biên soạn (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật ấn hành năm 2020).
Khánh thành Nhà lưu niệm Đại tướng Văn Tiến Dũng – Báo Quốc phòng Thủ đô.
Những kỷ niệm về Đại tướng Văn Tiến Dũng – Báo Quân đội nhân dân.
Đại tướng Văn Tiến Dũng - nhà chỉ huy tham mưu chiến lược xuất sắc – Báo Quân đội nhân dân.
Đại tướng Văn Tiến Dũng với cách đánh "nở hoa trong lòng địch" – Báo Quân khu 7.
Đại tướng Văn Tiến Dũng với nghệ thuật cầm quân đỉnh cao trong Chiến dịch Tây Nguyên – Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN).


