Đại tướng Văn Tiến Dũng – Tổng Tham mưu trưởng, Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh
Đại tướng Văn Tiến Dũng (1917 - 2002) sinh tại xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Ông tham gia cách mạng từ năm 1936, được kết nạp Đảng tháng 11 năm 1937. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông gắn với những chiến công của Đại đoàn 320; từ năm 1953, ông giữ chức Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam suốt 25 năm, thời gian lâu nhất trong lịch sử quân đội. Tháng 4 năm 1975, ông là Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh, cùng Chính ủy Phạm Hùng và Bộ Tư lệnh chỉ huy trận quyết chiến chiến lược cuối cùng với phương châm “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”. Chiến dịch toàn thắng ngày 30 tháng 4 năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Có những cái tên chỉ cần nhắc lên, ta như nghe vọng lại tiếng bước chân của cả một thời đại. Đại tướng Văn Tiến Dũng là một cái tên như thế. Ông là Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, là Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, người cùng Bộ Chỉ huy viết nên trang sử cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Mỗi dịp 30 tháng 4, khi nhìn lại ngày đất nước liền một dải, người ta lại nhớ đến người đã đứng ở vị trí chỉ huy của chiến thắng ấy.
Ông sinh ngày 2 tháng 5 năm 1917 tại xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà Nội, trong một gia đình lao động. Cũng như nhiều thanh niên cùng thế hệ, ông sớm hiểu rằng nỗi nhục mất nước không thể chờ ai gỡ giúp. Năm 1936, ông bước vào phong trào đấu tranh công khai; đến tháng 11 năm 1937, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản, khi mới ngoài hai mươi tuổi. Từ đó, cuộc đời ông gắn chặt với con đường cách mạng. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, tên ông gắn liền với những chiến công của Đại đoàn 320. Năm 1953, ông được Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao trọng trách Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, và giữ cương vị ấy suốt 25 năm, lâu nhất trong lịch sử quân đội ta. Trong những năm tháng ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, ông không ngồi lại nơi hậu phương mà thường xuyên có mặt ở chiến trường, trực tiếp chỉ huy nhiều chiến dịch then chốt như Đường 9 - Nam Lào, Trị - Thiên và Tây Nguyên.
Đỉnh cao trong sự nghiệp của ông là Chiến dịch Hồ Chí Minh tháng 4 năm 1975. Khi thời cơ giải phóng miền Nam đã chín muồi, Bộ Chính trị giao cho ông trọng trách Tư lệnh chiến dịch. Cùng Chính ủy Phạm Hùng và Bộ Tư lệnh, ông xây dựng kế hoạch, điều binh khiển tướng cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng. Phương châm “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng” như một mệnh lệnh vang lên trong lòng mỗi người lính. Lúc 17 giờ ngày 26 tháng 4, chiến dịch mở màn. Các cánh quân thần tốc tiến từ nhiều hướng, như những dòng thác đổ về Sài Gòn. Năm ngày đêm sau, ngày 30 tháng 4 năm 1975, lá cờ giải phóng tung bay trên Dinh Độc Lập, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất sau bao năm chia cắt. “Đất nước ba mươi năm cầm súng / Mà vầng trăng còn xẻ làm đôi”, chiến thắng ấy trước hết là của Đảng, của hàng triệu quân dân cả nước; nhưng trong đó có dấu ấn của một người chỉ huy quyết đoán, dám nhận trách nhiệm cao nhất trước giờ phút trọng đại.
Nhìn lại cuộc đời của ông, có thể thấy rõ những phẩm chất sáng ngời: lòng yêu nước tha thiết, bản lĩnh kiên cường, tư duy chiến lược sắc bén và tinh thần trách nhiệm cao. Ông biết quyết đoán đúng lúc, nhưng cũng biết đặt mình trong tập thể, lắng nghe và phối hợp với đồng đội, bởi một chiến thắng lớn chưa bao giờ là công lao của riêng một người.
Hôm nay, đất nước đã qua nửa thế kỷ hòa bình, nhưng tên tuổi Đại tướng Văn Tiến Dũng vẫn sống mãi trong trang sử dân tộc. Từ tấm gương của ông, có thể thấy lòng yêu nước không chỉ nằm trong những lời nói to tát, mà bắt đầu từ ý chí vượt khó, tinh thần trách nhiệm và biết đoàn kết cùng mọi người. Thế hệ trẻ hôm nay cần chăm chỉ học tập, rèn luyện đạo đức và sống có ích, để xứng đáng với hòa bình mà thế hệ đi trước đã đổi bằng máu xương, và góp một phần nhỏ xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp.



