Khác

Đại tướng Văn Tiến Dũng - Tướng chỉ huy tài tình trong chiến dịch bảo vệ Biên giới phía Bắc

Đầu năm 1979, Quân đội ta vừa hoàn thành nhiệm vụ giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng Khmer Đỏ. Nhưng vận mệnh đất nước chưa kịp ngơi nghỉ, bóng mây chiến tranh lại ập xuống mảnh đất địa đầu Tổ quốc. Cùng lúc đó, dưới sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Đại tướng Văn Tiến Dũng tổ chức một chiến dịch chuyển quân thần tốc chưa từng có trong lịch sử: đưa Quân đoàn 2 và các đơn vị thiện chiến từ chiến trường Tây Nam ra Bắc bằng máy bay vận tải, tàu hỏa và đường biển.

Hà Nội22/10/2026Nguyễn Ngọc Dương (phường Yên Sở)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Đại tướng Văn Tiến Dũng - Tướng chỉ huy tài tình trong chiến dịch bảo vệ Biên giới phía Bắc

Tháng Hai năm 1979, những cơn gió lạnh buốt từ phương Bắc vẫn cuồn cuộn thổi qua triền núi Hoàng Liên Sơn. Tiếng súng pháo bất ngờ gầm vang dội suốt dải biên cương dài hơn một nghìn cây số, từ Pa Nậm Cúm (Lai Châu) sang đến Móng Cái (Quảng Ninh). Trong căn hầm tác chiến tại Tổng Hành dinh ở Hà Nội, ánh đèn neon vàng vọt phủ lên tấm bản đồ quân sự khổ lớn ghim chật ních những mũi tên đỏ, xanh. Đứng sừng sững trước tấm bản đồ, chắp hai tay sau lưng, gương mặt đăm chiêu nhưng ánh mắt sáng quắc, là Đại tướng Văn Tiến Dũng.

image.png

Đại Tướng Văn Tiến Dũng. Ảnh: Báo Nhân dân

Người ta thường nhắc đến ông như một vị tướng của những trận đánh quyết định. Năm 1975, ông là Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, chỉ huy đòn sấm sét giải phóng miền Nam. Đầu năm 1979, ông vừa hoàn thành nhiệm vụ giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng Khmer Đỏ. Nhưng vận mệnh đất nước chưa kịp ngơi nghỉ, bóng mây chiến tranh lại ập xuống mảnh đất địa đầu Tổ quốc.

Những ngày đầu cuộc chiến nổ ra, điện mật từ các Quân khu 1, Quân khu 2 liên tục dồn về. Địch huy động bộ binh ồ ạt, sử dụng chiến thuật "biển người" kết hợp pháo binh hạng nặng tấn công đồng loạt các thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai. Trước áp lực nghẹt thở, nhiều cuộc họp khẩn cấp của Bộ Tổng Tham mưu diễn ra thâu đêm. Trong khi nhiều cán bộ trẻ sốt ruột đề xuất dồn ngay các quân đoàn chủ lực tinh nhuệ từ phía Nam ra phản công tổng lực, Đại tướng Văn Tiến Dũng vẫn giữ được sự bình thản đáng kinh ngạc.

Ông bước tới bàn chỉ huy, dùng đầu bút chì gõ nhẹ lên dải biên giới hiểm trở:

— Bình tĩnh lại. Ta đánh giặc không chỉ bằng sự quả cảm, mà phải bằng mưu lược và địa hình. Các đồng chí hãy nhìn xem, đối phương đông nhưng đội hình hành quân cơ giới bị kẹp chặt trong các thung lũng, hẻm núi. Ta có gì? Ta có nhân dân, có bộ đội địa phương và dân quân tự vệ đã bám đất nhiều đời, thuộc từng hốc đá, từng con suối.

Tư duy quân sự sắc sảo của vị tướng trận mạc lập tức chuyển hóa thành các mệnh lệnh then chốt. Thay vì vội vã đưa các đơn vị chủ lực cơ giới dàn trận quy mô lớn nơi hẹp hiểm, Đại tướng chỉ đạo: Phát huy tối đa lối đánh tại chỗ của lực lượng địa phương. Mỗi ngọn đồi là một pháo đài, mỗi vách đá là một bẫy diệt xe tăng, chia cắt đội hình địch, tiêu hao sinh lực đối phương từng bước và ghìm chân chúng lại.

Chỉ thị ấy được truyền đến từng chiến hào ở đồi Pháo Đài (Lạng Sơn), đồn Đồng Đăng, hay ngã ba Bến Đền (Hoàng Liên Sơn). Các chiến sĩ biên phòng, tự vệ mỏ, dân quân địa phương nghe mệnh lệnh của Tổng hành dinh như được tiếp thêm luồng sinh khí. Họ dựa vào hang đá, hầm ngầm, chặn đứng hàng chục đợt xung phong của đối phương mỗi ngày, ghìm chân cả những sư đoàn địch suốt nhiều tuần lễ.

Cùng lúc đó, dưới sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Đại tướng Văn Tiến Dũng tổ chức một chiến dịch chuyển quân thần tốc chưa từng có trong lịch sử: đưa Quân đoàn 2 và các đơn vị thiện chiến từ chiến trường Tây Nam ra Bắc bằng máy bay vận tải, tàu hỏa và đường biển. Những người lính dày dạn trận mạc vừa bước ra khỏi chiến hào Campuchia đã lập tức có mặt ở các vị trí phòng thủ then chốt quanh Hà Nội và phía sau tuyến một, sẵn sàng giáng đòn quyết định.

Ngày 5 tháng 3 năm 1979, lệnh Tổng động viên toàn quốc được ban bố. Quân đoàn 14 cùng các lực lượng chủ lực hùng hậu đã vào vị trí triển khai thế trận phản công quy mô lớn. Đứng trước một thế trận phòng thủ - phản kích tầng tầng lớp lớp, hiểm hóc và kiên cố của quân và dân ta, đối phương hiểu rằng họ không còn cơ hội tiến sâu và tuyên bố rút quân.

Dẫu địch rút lui, Đại tướng Văn Tiến Dũng vẫn nghiêm lệnh: Tuyệt đối không chủ quan, tiếp tục truy kích các toán quân cướp bóc, phá hoại, đồng thời giữ vững kỷ luật chiến trường và thế trận phòng thủ lâu dài dọc tuyến biên giới.

Khi tiếng pháo tạm lắng xuống trên đỉnh Ải Nam Quan, Đại tướng Văn Tiến Dũng cùng các cán bộ tác chiến bước ra khỏi hầm chỉ huy. Trời Hà Nội đã sang xuân, hoa đào rụng vương trên lối đi. Nhìn về phương Bắc, vị tướng già lặng im hồi lâu, nghĩ về những người lính trẻ, những tự vệ tuổi mười tám, đôi mươi đã vĩnh viễn nằm lại nơi vách đá cheo leo để giữ trọn vẹn từng tấc đất biên cương. Với ông, cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc không chỉ là một trang sử hào hùng về bản lĩnh quân sự, mà còn là lời nhắc nhở muôn đời về giá trị của sự cảnh giác và ý chí tự lực tự cường của dân tộc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn