Bài viết

ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP (22)

Tây Ninh14/05/2026Phạm Hoàng Yến Ngọc (Cần Đước)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

1. Tiểu sử:

Võ Nguyên Giáp (25 tháng 8 năm 1911 – 4 tháng 10 năm 2013), tên khai sinh là Võ Giáp, còn được gọi là tướng Giáp hoặc anh Văn, là một nhà lãnh đạo quân sự và chính trị gia người Việt Nam. Ông là Đại tướng đầu tiên, Tổng Tư lệnh tối cao của Quân đội Nhân dân Việt Nam, một trong những thành viên sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được Chính phủ Việt Nam đánh giá là "người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh", là chỉ huy trưởng của các chiến dịch trong Chiến tranh Đông Dương (1946–1954), Chiến tranh Việt Nam (1955–1975) và Chiến tranh biên giới Việt – Trung (1979).

Xuất thân là một giáo viên dạy lịch sử, ông được đánh giá là một trong những nhà lãnh đạo quân sự lỗi lạc nhất trong lịch sử Việt Nam.Ông được nhiều tờ báo ca ngợi là anh hùng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Võ Nguyên Giáp cũng đọc và chịu ảnh hưởng của nhiều nhà lãnh đạo lịch sử, chẳng hạn như Carl von Clausewitz, Tôn Tử, George Washington, và Vladimir Lenin, mặc dù cá nhân ông cho rằng T. E. Lawrence và Napoléon là hai người có ảnh hưởng lớn nhất đến ông. Các báo chí phương Tây còn gọi ông Giáp với biệt danh là "Napoleon đỏ" (Red Napoleon) do tài chỉ huy quân sự của ông đã đánh bại hoàn toàn âm mưu xâm lược của nước Pháp trong trận Điện Biên Phủ năm 1954 gây chấn động thế giới. Ông Giáp cũng là một nhà hậu cần chiến lược, và được công nhận là kiến trúc sư chính của đường mòn Hồ Chí Minh, đưa vũ khí và người từ miền Bắc Việt Nam vào Nam qua Lào và Campuchia, được công nhận là một trong những kỳ công vĩ đại của thế kỷ 20 về kỹ thuật quân sự và khả năng quản lý quân sự hoàn hảo.

Võ Nguyên Giáp thường được ghi nhận là người có công trong chiến thắng quân sự của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa. Sự nghiệp quân sự của ông so với các nhà lãnh đạo khác được xem là nổi bật hơn, với những tướng cũ của ông là Văn Tiến Dũng và Hoàng Văn Thái sau này có trách nhiệm quân sự trực tiếp hơn ông. Mặc dù vậy, ông đã đóng vai trò quan trọng trong việc biến Quân đội Nhân dân Việt Nam thành một trong những lực lượng chiến đấu kết hợp và cơ giới hóa "lớn nhất, đáng gờm nhất" có khả năng đánh bại Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong chiến tranh.

2. Hoạt động chính trị

Khi còn là sinh viên, Giáp đã ở trọ với Giáo sư Đặng Thái Minh, người có con gái là Nguyễn Thị Minh Giang (cũng được gọi là Nguyễn Thị Quang Thái (1915–1944), mà ông gặp lần đầu ở trường tại Huế. Cô cũng học được chủ nghĩa dân tộc từ cha mình và tham gia các hoạt động cách mạng mà Giáp tham gia. Tháng 6 năm 1938 (hoặc theo một số nguồn , tháng 4 năm 1939) họ kết hôn và tháng 5 năm 1939 họ có một con gái, Hồng Anh (Nữ hoàng Hoa Đỏ). Các hoạt động chính trị bận rộn của Giáp đã ảnh hưởng đến việc học sau đại học của ông, và ông đã không vượt qua kỳ thi lấy Chứng chỉ Luật Hành chính. Do đó, không thể hành nghề luật sư, ông đã nhận một công việc làm giáo viên lịch sử tại Trường Thăng Long ở Hà Nội.

Ngoài việc giảng dạy ở trường, Giáp còn bận rộn sản xuất và viết bài cho Tiếng Dân (Tiếng Nói Nhân Dân) do Huỳnh Thúc Kháng sáng lập và nhiều tờ báo cách mạng khác, đồng thời tích cực tham gia vào các phong trào cách mạng khác nhau. Trong suốt thời gian đó, Giáp là một người đọc chuyên tâm về lịch sử quân sự và triết học, kính trọng Tôn Tử . Ông cũng đặc biệt nghiên cứu về tài năng chỉ huy của Napoléon , và rất ngưỡng mộ Bảy Trụ Cột Trí Tuệ của Tê-ta Lawrence , học hỏi từ đó những ví dụ thực tiễn về cách áp dụng lực lượng quân sự tối thiểu để đạt hiệu quả tối đa. Ông cũng đọc và chịu ảnh hưởng bởi các nhân vật lịch sử bao gồm Carl von Clausewitz , George Washington và Vladimir Lenin Trong những năm Mặt trận Bình dân ở Pháp, ông đã thành lập Hồ Trẻ tập mới , một tờ báo xã hội chủ nghĩa ngầm. Ông cũng thành lập tờ báo tiếng Pháp Lê Lao Động (trong đó Phạm Văn Đồng cũng làm việc).

Sau khi ký Hiệp ước Molotov-Ribbentrop , chính quyền Pháp đã cấm Đảng Cộng sản Đông Dương. Các lãnh đạo của đảng quyết định rằng Giáp nên rời Việt Nam và đi lưu vong sang Trung Quốc. Vào ngày 3 tháng 5 năm 1940, ông nói lời tạm biệt với vợ, rời Hà Nội và vượt biên sang Trung Quốc. Vợ của Giáp về nhà ở Vinh, nơi bà bị bắt, bị kết án 15 năm tù và bị giam giữ tại Nhà tù Trung tâm Hoa Lò ở Hà Nội. Tại Trung Quốc, Giáp gia nhập cùng Hồ Chí Minh , lúc đó là cố vấn của Quân Giải phóng Nhân dân . Giáp lấy bí danh Dương Hoài Nam, học nói và viết tiếng Trung, và nghiên cứu chiến lược và chiến thuật của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Tháng 9 năm 1940, chính phủ Vichy Pháp đồng ý cho Nhật Bản chiếm đóng Việt Nam để 'bảo vệ' Đông Dương. Tháng 5 năm 1941, Đại hội lần thứ 8 của Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định thành lập Việt Minh ; Giáp được giao nhiệm vụ thiết lập mạng lưới tình báo và tổ chức các căn cứ chính trị ở vùng cực bắc của đất nước. Để bắt đầu công tác tuyên truyền trong dân chúng, một tờ báo có tên Việt Nam Độc Lập đã được xuất bản. Giáp đã viết nhiều bài báo cho tờ báo này và nhiều lần bị Hồ Chí Minh chỉ trích vì văn phong quá dài dòng.

3. Sự nghiệp quân sự:

Ngày 3 tháng 5 năm 1940, Võ Nguyên Giáp với bí danh là Dương Hoài Nam cùng Phạm Văn Đồng lên Cao Bằng rồi vượt biên sang Trung Quốc để gặp Hồ Chí Minh. Ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương trong năm này và bắt đầu các hoạt động của mình trong Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội, một tổ chức chống phát-xít và đấu tranh cho độc lập của Việt Nam. Ông tham gia xây dựng cơ sở cách mạng, mở lớp huấn luyện quân sự cho Việt Minh ở Cao Bằng.

Ngày 22 tháng 12 năm 1944, theo hướng dẫn của Hồ Chí Minh, ông thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tại chiến khu Trần Hưng Đạo với 34 người, được trang bị 2 súng thập (một loại súng ngắn), 17 súng trường, 14 súng kíp và 1 súng máy. Đây là tổ chức tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Ngày 25 tháng 12 năm 1944, Võ Nguyên Giáp đã chỉ huy đội quân này lập chiến công đầu tiên là tập kích diệt gọn hai đồn Phai Khắt và Nà Ngần.

Ngày 14 tháng 8 năm 1945, Võ Nguyên Giáp trở thành uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, sau đó là ủy viên Thường vụ Trung ương, tham gia Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc.

Sau Cách mạng Tháng Tám, Võ Nguyên Giáp được cử làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Phó Bộ trưởng (nay gọi là Thứ trưởng) Bộ Quốc phòng trong Chính phủ lâm thời (từ ngày 28 tháng 8 đến hết năm 1945) và là Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia và Dân quân tự vệ.

Trong Chính phủ Liên hiệp, ông là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (cho đến tháng 7 năm 1947 và từ tháng 7 năm 1948 trở đi).

Cũng trong năm 1946, ông kết hôn với bà Đặng Bích Hà (con gái giáo sư Đặng Thai Mai).

*Kháng chiến chống Pháp

Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Chiến tranh Đông Dương chính thức bùng nổ. Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản, ông bắt đầu chỉ đạo cuộc đấu tranh vũ trang kéo dài 9 năm chống lại sự trở lại của người Pháp (1945-1954) trên cương vị Tổng chỉ huy và Tổng Chính ủy, từ năm 1949 đổi tên gọi là Tổng tư lệnh quân đội kiêm Bí thư Tổng Quân uỷ.

Đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam

Không được đào tạo tại bất kỳ trường quân sự nào trước đó, không phải trải qua các cấp bậc quân hàm trong quân đội, Võ Nguyên Giáp thụ phong quân hàm Đại tướng vào ngày 28 tháng 5 năm 1948 theo sắc lệnh 110/SL ký ngày 20 tháng 1 năm 1948, Ông trở thành Đại tướng đầu tiên của Quân Đội Quốc gia Việt Nam khi 37 tuổi. Sau này, trả lời phóng viên nước ngoài về tiêu chí phong tướng, Hồ Chí Minh đã nói: “người nào đánh thắng đại tá thì phong đại tá, đánh thắng thiếu tướng thì phong thiếu tướng, đánh thắng trung tướng thì phong trung tướng, đánh thắng đại tướng thì phong đại tướng”. Cùng đợt thụ phong có Nguyễn Bình được phong Trung tướng; Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiến Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa, Trần Tử Bình được phong Thiếu tướng. Tháng 8 năm 1948, ông là ủy viên Hội đồng Quốc phòng Tối cao vừa mới được thành lập.

Từ tháng 8 năm 1945 Võ Nguyên Giáp là một trong 5 ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và trở thành ủy viên Bộ Chính trị (thay thế Ban Thường vụ Trung ương) Đảng Lao động Việt Nam từ năm 1951.

Như các danh tướng Việt Nam trong lịch sử, Võ Nguyên Giáp chú trọng nghệ thuật lấy ít địch nhiều, lấy yếu chế mạnh, lấy thô sơ thắng hiện đại. Tư tưởng quân sự nổi tiếng của ông có tên gọi là Chiến tranh Nhân dân kế thừa quan điểm quân sự Hồ Chí Minh, tinh hoa nghệ thuật đánh giặc của tổ tiên, tri thức quân sự thế giới, lý luận quân sự Mác-Lênin và được đúc rút từ kinh nghiệm cá nhân được liên tục cập nhật trong nhiều cuộc chiến tranh mà nổi bật là chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ.

Trong 9 năm trường kỳ đánh Pháp, Võ Nguyên Giáp đã có những sáng kiến quan trọng để phát huy sức mạnh quân sự và đã trở thành những kinh nghiệm quý báu như: “Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung”. Với chuyên gia quân sự Trung Quốc sang giúp huấn luyện Quân đội, ông chỉ đạo chiến sĩ học tập, tiếp thu, nghiên cứu kỹ phương pháp của nước Bạn, đồng thời nhắc nhở cán bộ, sĩ quan phải ghi nhớ việc tiết kiệm sinh mạng bộ đội do Việt Nam là nước nhỏ không thể nuôi nhiều quân.

Năm 1954, Võ Nguyên Giáp được Hồ Chí Minh và Đảng Lao động tin tưởng trao cho toàn quyền chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ. Trước khi ra trận, Hồ Chí Minh đã dặn dò: “Cho chú toàn quyền chỉ huy. Trận này chỉ được thắng không được thua vì thua là hết vốn”. Ông tự tin lên kế hoạch và chỉ huy 4 trong 6 sư đoàn bộ binh khi đó của Quân đội Nhân dân Việt Nam là 308, 304, 312, 316 và Đại đoàn sơn pháo 351 tấn công Điện Biên Phủ, đánh bại đội quân nhà nghề được trang bị hiện đại của Liên hiệp Pháp. Chiến thắng này đã đặt dấu chấm hết cho quyền lực của người Pháp tại Đông Dương sau 83 năm và đã đưa Võ Nguyên Giáp đi vào lịch sử thế giới như là một danh nhân quân sự Việt Nam, một người hùng của Thế giới thứ ba, nơi có những người dân bị nô dịch đã xem Võ Nguyên Giáp là thần tượng để hạ quyết tâm lật đổ chế độ thực dân xây dựng nền độc lập của riêng mình.

*Các chiến dịch ông đã tham gia

Các chiến dịch ông đã tham gia với tư cách là Tư lệnh chiến dịch – Bí thư Đảng ủy trong kháng chiến chống Pháp cùng với Thiếu tướng Hoàng Văn Thái làm tham mưu trưởng chiến dịch:

Chiến dịch Việt Bắc (thu đông 1947)

Chiến dịch Biên giới (tháng 9 – 10, năm 1950)

Chiến dịch Trung Du (tháng 12 năm 1950)

Chiến dịch Đông Bắc (năm 1951)

Chiến dịch Đồng Bằng (tháng 5 năm 1951)

Chiến dịch Hòa Bình (tháng 12 năm 1951)

Chiến dịch Tây Bắc (tháng 9 năm 1952)

Chiến dịch Thượng Lào (tháng 4 năm 1953)

Chiến dịch Điện Biên Phủ (tháng 3 – 5 năm 1954)

Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ mang đậm việc tạo thế, tổ chức hậu cần, thay đổi chiến thuật. Sau chiến dịch này, Hiệp định Genève về Đông Dương được ký kết, đặt dấu chấm hết cho sự có mặt của người Pháp ở Việt Nam sau hơn 80 năm.

4. Mười điểm đặc biệt của Võ Nguyên Giáp

Tên tuổi Đại tướng Võ Nguyên Giáp gắn liền với thắng lợi vĩ đại của hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ; với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Cái tài của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở chỗ, ông hiểu rõ kẻ thù của mình là ai, lợi thế của chúng là gì, làm thế nào để khiến chúng mất đi lợi thế đó.

Trong bảng danh sách 10 vị tướng vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới, Việt Nam có đến hai người con ưu tú là: Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn (1228- 1300) và Đại tướng Võ Nguyên Giáp (1911-2013).

Khi chiến tranh đã lùi vào quá khứ, thế giới nói chung, người Pháp, người Mỹ nói riêng đã thực sự bị thuyết phục bởi 10 điểm đặc biệt của Đại tướng Võ Nguyên Giáp

1. Vị Đại tướng duy nhất không được đào tạo ở một bất kỳ trường quân sự nào.

2. Vị Đại tướng trẻ tuổi nhất, Võ Nguyên Giáp được đặc cách phong quân hàm Đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam khi mới 37 tuổi.

3. Vị tướng gần gũi, xuất sắc nhất được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng giao trọng trách lớn “Tướng quân tại ngoại, trao cho chú toàn quyền...” (lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn trước khi khai màn chiến dịch Điện Biên Phủ)

4. Vị tướng hậu cần vĩ đại nhất mọi thời đại. Nhà sử học người Mỹ Cecil B.Currey đã viết: “Võ Nguyên Giáp là vị tướng duy nhất trong lịch sử hiện đại tiến hành chiến đấu chống kẻ thù từ thế vô cùng yếu, thiếu trang bị, thiếu tài chính nhưng là một vị tướng hậu cần vĩ đại của mọi thời đại”.

5. Kiến trúc sư của những sáng tạo nghệ thuật quân sự lớn nhất trong chiến dịch Điện Biên Phủ

6. Vị tướng duy nhất liên tục đánh bại Pháp và Mỹ, đánh bại nhiều tướng nhất. Trong cuộc đời cầm quân của mình, từ 1946 đến 1954, Đại tướng võ Nguyên Giáp đã lần lượt đánh bại 7 Đại tướng Pháp và 3 Đại tướng Mỹ

7. Trong một cuốn sách được xuất bản tại Anh năm 2008 mang tựa đề Những nhà lãnh đạo quân sự lớn và những chiến dịch của họ, giới thiệu 59 nhân vật danh tiếng nhất trong lịch sử các cuộc chiến tranh của thế giới trong 2.500 năm qua, thứ tự được xếp theo trình tự thời gian từ cổ đến kim. Đại tướng Võ Nguyên Giáp được lựa chọn là nhân vật thứ 59, tức là nhân vật nổi bật nhất kể từ sau Thế chiến thứ hai cho tới hiện nay và cũng là người duy nhất trong 59 nhân vật vẫn còn sống khi cuốn sách được xuất bản. Đại tướng cũng là một trong số ít các nhân vật trở thành huyền thoại ngay cả khi đang tại thế.

8. Vị tướng thiên tài về quân sự lớn nhất thế kỷ XX được đối thủ nể phục nhất

9. Vị tướng viết nhiều sách nhất. Ngoài một vị tướng chỉ huy quân sự lừng danh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn đóng góp vào kho tàng sử học và văn học của nước nhà với 64 đầu sách với hơn 10 vạn trang in.

10. Vị tướng sống lâu nhất từng được biết đến trong lịch sử quân sự thế giới và cũng là vị tướng “Dĩ công vi thượng” nhất với tuổi thọ 103.

Võ Nguyên Giáp là vị tướng có uy tín lớn trong nước và trên thế giới không chỉ vì tài năng và sự nghiệp của ông đã cống hiến mà còn vì phẩm chất đạo đức trong sáng, hết lòng yêu nước thương dân, toàn tâm toàn ý phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc. Nét đẹp cao quý nổi bật nhất, tập trung nhất về nhân cách của ông chính là tư tưởng, tinh thần “Dĩ công vi thượng”, luôn sống và hành xử khiêm tốn, giản dị, thanh cao, quyết đoán, dân chủ và bao dung, nhân hậu.

5. Phẩm chất và con người

*Thấu triệt tư tưởng nhân văn, hòa bình của dân tộc Việt Nam

Sinh ra trong cảnh nước mất, nhà tan, trực tiếp chứng kiến cảnh đồng bào bị thực dân và tay sai áp bức, bóc lột rất dã man và tàn bạo đã nung nấu trong người thanh niên trẻ tuổi, giàu lòng yêu nước Võ Nguyên Giáp ý chí sôi sục và quyết tâm đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc. Với lòng yêu nước nồng nàn, đồng chí sớm giác ngộ tư tưởng cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và đi theo con đường cách mạng của Người: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Đặc biệt, từ năm 1940, khi được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp huấn luyện, dìu dắt, đồng chí Võ Nguyên Giáp nhanh chóng trưởng thành về mọi mặt, trở thành người học trò xuất sắc, gần gũi và tin cậy. Được làm việc bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều năm, trong những thời khắc quan trọng của cách mạng, Võ Nguyên Giáp càng thấu triệt sâu sắc những tư tưởng vĩ đại và tầm nhìn chiến lược của vị lãnh tụ tối cao, nhất là tư tưởng không có gì quý hơn độc lập, tự do; tư tưởng nhân văn, hòa bình; chiến đấu vì chính nghĩa để giải phóng dân tộc; chiến đấu vì hòa bình, tự do và công lý, vì hạnh phúc, ấm no của nhân dân...

Những tư tưởng lớn ấy đã trở thành mục đích, lẽ sống theo suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Đại tướng. Bởi thế, trọn đời Đại tướng luôn gắn bó với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, luôn tỏa sáng phẩm chất cao quý của người chiến sĩ cách mạng kiên trung, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, một lòng thủy chung, sắt son: "Tôi sống ngày nào, cũng là vì đất nước ngày đó". Kế thừa và phát huy tư tưởng nhân văn, hòa bình của dân tộc Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí nhiều lần nêu cao thiện chí hòa bình của dân tộc.

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, với trí tuệ sắc bén của một nhà chính trị-quân sự và quan điểm thực tế của một nhà sử học, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhiều lần khẳng định dân tộc Việt Nam mong muốn hòa bình, nhưng đó phải là một nền hòa bình thực sự, phù hợp với những giá trị pháp lý quốc tế và giá trị nhân văn của loài người. Tháng 4-1946, tại Hội nghị Đà Lạt bàn về việc thực hiện Hiệp định sơ bộ 6-3 (Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt, công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là một quốc gia tự do nằm trong khối liên hiệp Pháp), trước thái độ thiếu thiện chí của phía Pháp, đồng chí kiên quyết nêu quan điểm: "Chúng tôi muốn hòa bình, đúng thế, nhưng là một nền hòa bình trong tự do và công bằng, một nền hòa bình phù hợp với Hiệp định sơ bộ 6-3 chứ không phải hòa bình trong nhẫn nhục, mất danh dự và nô lệ”, "Chúng tôi đã nhiều lần chứng tỏ thiện chí của mình. Nếu các ông muốn hòa bình thì sẽ có hòa bình. Còn nếu không, muốn chiến tranh thì sẽ có chiến tranh".

Rõ ràng, suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, cầm quân chiến đấu chống lại kẻ thù xâm lược đầy gian khổ, hy sinh, nhưng cũng vô cùng vẻ vang, oanh liệt, Đại tướng luôn phấn đấu vì một lý tưởng và mục đích cao đẹp đó là giải phóng dân tộc, giành lại độc lập, tự do và đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Hay nói cách khác, mục tiêu chiến đấu của Đại tướng là vì chính nghĩa, vì hòa bình và vì nhân dân. Đại tướng không chỉ cống hiến to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và cuộc sống hòa bình, ấm no, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam mà còn góp phần cổ vũ mạnh mẽ cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội, chống áp bức, bóc lột, bất công ở các nước thuộc địa châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latin. Điều đó càng làm cho tên tuổi của Đại tướng được thế giới vinh danh, ngưỡng mộ, cảm phục một vị tướng vì nhân dân, vị tướng vì hòa bình.

*Quý trọng sinh mệnh con người, hết lòng thương yêu bộ đội

Mục đích cao nhất của người cầm quân là tiêu diệt đối phương và giành thắng lợi trong các trận chiến đấu. Nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp không bao giờ đặt mục tiêu giành thắng lợi bằng mọi giá. Theo Đại tướng, "không cần thắng nhiều trận để giành toàn thắng trong chiến tranh", mà chỉ cần làm cho kẻ thù xâm lược "biến" khỏi đất nước chúng ta. Tức là cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ không nhằm mục đích tiêu diệt đối phương mà là đánh bại ý chí xâm lược của kẻ địch để giành độc lập, hòa bình và tự do, hạnh phúc cho đất nước, cho dân tộc. Đó mới là mục đích cao nhất mà Đại tướng theo đuổi. Đây cũng là mục đích của cuộc chiến tranh chính nghĩa mà nhân dân Việt Nam tiến hành. Vì thế, trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn tìm mọi cơ hội để có thể giành được thắng lợi mà giảm thiểu những mất mát, hy sinh.

Tuy nhiên, khi không thể đấu tranh bằng phương pháp hòa bình được mà buộc phải chiến đấu bằng lực lượng quân sự, Đại tướng vẫn luôn coi trọng và đặt tính mạng của cán bộ, chiến sĩ lên hàng đầu. Trên cương vị Tổng Tư lệnh Quân đội, Đại tướng yêu cầu các đơn vị trong toàn quân quán triệt tinh thần "phải giành bằng được chiến thắng ở mức cao nhất đi đôi với việc giảm xuống mức thấp nhất sự hy sinh xương máu của tướng sĩ".

Ý thức rõ điều này, là một người cầm quân khi tuổi đời còn rất trẻ, lại chưa trải qua một trường lớp đào tạo chính quy nào về quân sự, Đại tướng không ngừng khổ công học tập những tinh hoa tư tưởng quân sự của dân tộc và nhân loại, không ngừng tổng kết thực tiễn, đúc rút những kinh nghiệm, bài học thiết thực trong chỉ huy chiến đấu. Đại tướng luôn ý thức sâu sắc được rằng, người chỉ huy các cấp nói chung, nhất là Tổng Tư lệnh phải có trách nhiệm với từng vết thương và từng giọt máu của mỗi cán bộ, chiến sĩ cấp dưới của mình.

Là người trực tiếp xây dựng và chỉ huy Quân đội từ "con số không" cho đến những quân, binh chủng hùng mạnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người thấu hiểu hơn ai hết vai trò của cán bộ, chiến sĩ-những người trực tiếp chiến đấu và quyết định thắng lợi của từng trận đánh. Vì thế, Đại tướng thường xuyên căn dặn đội ngũ cán bộ Quân đội: "Chiến tranh không phải là vấn đề thể diện, không được phiêu lưu, mạo hiểm, không cho phép đánh đổi bằng bất cứ giá nào. Một người chỉ huy giỏi là một người đánh thắng kẻ thù nhưng ta thương vong thấp nhất, đổ xương máu ít nhất. Sinh mạng của con người là vô giá và không gì có thể bù đắp nổi nỗi đau mất mát trong chiến tranh". Đại tướng luôn bao dung, nhân hậu, hết mực thương yêu cán bộ, chiến sĩ. Đặc biệt, Đại tướng luôn quý trọng từng giọt máu của người lính và đã nhiều lần bật khóc trước sự hy sinh của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân sau mỗi trận đánh. Đại tướng cho rằng: "Hạnh phúc lớn nhất của người cầm quân là được ở bên chiến sĩ trên chiến trường".

Là người trực tiếp chiến đấu dưới sự chỉ huy của Đại tướng và lại có nhiều năm nghiên cứu, giảng dạy về khoa học quân sự, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo cho biết: "Tổng Tư lệnh nhiều đêm thao thức, nước mắt ướt đẫm vì được tin một chiến dịch nào đó, máu chiến sĩ đổ quá nhiều mà chiến thắng thì chưa tương xứng. Đấy là trái tim anh Văn! Đấy là cách đánh, cách tiến công nhân văn chủ nghĩa của Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp" và nhấn mạnh: "Nguyên tắc bất di bất dịch trong chỉ huy và chỉ đạo chiến trường của Đại tướng, Tổng Tư lệnh suốt hai cuộc kháng chiến là: Tầm cao mỗi chiến thắng phải tỷ lệ nghịch với tổng số thương binh và tử sĩ trong chiến thắng ấy". "Quyết định khó khăn nhất" thay đổi phương án tác chiến từ "đánh nhanh, thắng nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc" không những mang lại thắng lợi lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu, mà còn giúp bảo toàn sinh lực của lực lượng chủ lực Quân đội ta. Nhiều năm sau nhìn lại, đồng chí Vương Thừa Vũ cho rằng: “Nếu hồi đó cứ “đánh nhanh, giải quyết nhanh" thì cuộc kháng chiến chống Pháp có thể lùi lại 10 năm". Đồng chí Lê Trọng Tấn cũng cho rằng: Nếu không có quyết định thay đổi phương châm thì phần lớn cán bộ chúng tôi đã không có mặt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

*Khép lại quá khứ, hướng tới tương lai

Suốt cả cuộc đời thực hiện "Dĩ công vi thượng" theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn luôn đặt lợi ích của cách mạng, của đất nước, dân tộc lên trên hết, tìm cách thu hẹp bất đồng, mâu thuẫn, khép lại quá khứ để hướng tới tương lai tốt đẹp cho các bên. Đồng chí cho rằng, vì độc lập dân tộc, vì hòa bình, hạnh phúc của nhân dân nên chỉ huy Quân đội để tiến hành chiến tranh vệ quốc. Khi chiến tranh đã qua rồi, cần phải hướng tới những điều tốt đẹp trong tương lai cho đất nước, cho dân tộc và cho cả thế giới. Đó mới là những việc làm quan trọng và có ý nghĩa.

Trong rất nhiều lần đón tiếp, trao đổi, trò chuyện với các chính khách, nhà báo nước ngoài, kể cả những người từng ở bên kia chiến tuyến, Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn tinh tế, lịch thiệp và thẳng thắn thể hiện rõ thiện chí yêu chuộng hòa bình của mình và cả dân tộc Việt Nam. Năm 1991, đạo diễn người Pháp, Daniel Roussel, là tác giả của nhiều bộ phim tài liệu về chiến tranh ở Việt Nam đến gặp Đại tướng để làm phim. Đại tướng rất thân mật nói bằng tiếng Pháp với Daniel Roussel rằng, làm phim về chiến tranh, nhưng không phải vì chiến tranh, mà để phục vụ cho hòa bình, thì những thước phim đó sẽ sống mãi với thời gian.

Năm 1995, trong cuộc gặp với Robert McNamara, cựu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ tại Nhà khách Bộ Quốc phòng (Hà Nội), nói về những cơ hội có thể cứu vãn hòa bình ở Việt Nam đã bị bỏ qua, Đại tướng chỉ rõ: "Trong khi kiên quyết chiến đấu chống xâm lược, Việt Nam cũng rất mong muốn kết thúc chiến tranh... Có thể nói rằng, phía Việt Nam đã không bỏ lỡ một cơ hội nào vì dân tộc Việt Nam là một dân tộc yêu hòa bình hơn ai hết và chiến tranh sẽ mang lại đau khổ trước hết cho người Việt Nam”. Đồng chí nhấn mạnh, dân tộc Việt Nam là một dân tộc mà ý thức và quyết tâm bảo vệ độc lập đã trở thành một triết lý, bản sắc văn hóa và cũng là một nguyên tắc không gì lay chuyển. Những lời chia sẻ chân tình của Đại tướng đã làm cho cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ rất xúc động.

Đặc biệt, năm 1997, gặp lại Robert McNamara, trao đổi về quan hệ của Việt Nam với các nước lớn trong chiến tranh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhắc lại nhiều lần rằng nước lớn có vai trò của nước lớn, nước nhỏ có vai trò của nước nhỏ. Ngày nay, "muốn gây dựng một trật tự thế giới mới thì các dân tộc phải bình đẳng và tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau. G7, G8 bàn với nhau, được, nhưng nếu không tính đến các nước nhỏ thì không bao giờ thế giới có hòa bình và ổn định, phát triển". Năm 1998, tiếp gia đình Tổng thống Mỹ J.Kennedy tại nhà riêng, không gợi lại chiến tranh, không nói đến trang sử đen tối của cuộc chiến tranh mà Mỹ đã gây nên ở Việt Nam, Đại tướng nói về mối quan hệ giữa hai nước Mỹ và Việt Nam đã từng là đồng minh chống phát xít Nhật, về bức ảnh Đại tướng với Chủ tịch Hồ Chí Minh do mấy người bạn đồng minh Mỹ chụp tặng. Tình cảm, đức độ của Đại tướng đã làm thay đổi nhận thức của gia đình Tổng thống Kennedy. Trong cuộc gặp với các cựu binh Mỹ tại Hà Nội ngày 17-12-2006, Đại tướng nói, trước đây các bạn đến Việt Nam để tiến hành cuộc chiến tranh; hôm nay các bạn trở lại đây để tổ chức một cuộc họp hòa bình...

Tình cảm và thiện chí tốt đẹp mà Đại tướng dành cho những vị khách quốc tế một lần nữa khẳng định khát vọng hòa bình, độc lập của nhân dân Việt Nam, đồng thời tiếp tục thể hiện truyền thống nhân văn, hòa bình của dân tộc, mong muốn khép lại quá khứ, hướng tới tương lai mà trước đây các bậc tiền nhân trong lịch sử đã từng thực hiện khi kết thúc chiến tranh chống xâm lược. Đó là tinh thần: "Đem đại nghĩa để thắng hung tàn/ Lấy chí nhân để thay cường bạo" nhằm mang lại nền thái bình muôn thuở và dập tắt muôn đời chiến tranh cho các thế hệ mai sau.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP (22) | Câu chuyện thời hoa lửa